Năm học mới 2018-2019 đã cận kề, những ngày này, ngành Giáo dục Quảng Ninh đang nỗ lực thực hiện mọi công tác chuẩn bị để công tác dạy và học được thuận lợi, ổn định. Liên quan đến vấn đề này, PV Báo Quảng Ninh đã có cuộc phỏng vấn đồng chí Vũ Liên Oanh, Giám đốc Sở GD&ĐT.
- Xin đồng chí cho biết quy mô, mạng lưới trường lớp của Quảng Ninh năm học 2018-2019?
+ Theo kế hoạch phát triển giáo dục của các địa phương, năm học 2018-2019, toàn tỉnh có 645 trường mầm non, phổ thông; trong đó có 4 trường mới đi vào hoạt động. Đó là: Trường Mầm non Hoa Phượng Tím, Trường Mầm non - Tiểu học Green Star, Trường THCS Chu Văn An (TP Cẩm Phả); Trường Tiểu học Ka Long (TP Móng Cái).
Năm học này, toàn tỉnh có 1.002 điểm trường lẻ mầm non, tiểu học, giảm 105 điểm trường so với năm học trước. Tuy nhiên, số học sinh, số lớp thì lại tăng mạnh. Tổng số lớp là 10.845, tăng 203 lớp; có 314.145 trẻ mầm non, học sinh, tăng 12.431 em, trong đó, chiếm chủ yếu là cấp học mầm non (tăng 10.653 trẻ).
Theo đó, số học sinh/lớp trung bình toàn tỉnh ở từng cấp như sau: 28 trẻ/lớp với mầm non, 35 học sinh/lớp với cấp tiểu học, 37 học sinh/lớp với cấp THCS, 40 học sinh/lớp với cấp THPT. Tuy nhiên, tỷ lệ này không đồng đều giữa các khu vực. Ở các huyện vùng núi, tỷ lệ trẻ trên lớp thường thấp hơn. Đơn cử như Ba Chẽ, cấp mầm non chỉ 23 trẻ/lớp, cá biệt có những điểm trường chỉ có 10 trẻ/lớp như các điểm trường của Trường Mầm non Đạp Thanh, Thanh Sơn.
Trong khi đó, ở các thành phố, thị xã, tỷ lệ trẻ trên lớp lại vượt mức quy định. Điển hình như TP Hạ Long, Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt có 47 học sinh/lớp, Tiểu học Trần Hưng Đạo có 42 học sinh/lớp; TP Cẩm Phả, Trường Tiểu học Cẩm Thủy, Tiểu học Lê Hồng Phong có 42 học sinh/lớp. Các trường THCS có trường tỷ lệ trung bình lên đến 48 học sinh/lớp như THCS Trọng Điểm TP Hạ Long.
- Với số học sinh tăng mạnh như vậy sẽ gây những khó khăn gì cho ngành Giáo dục, thưa đồng chí?
+ Khó khăn mà ngành Giáo dục đang gặp phải và cũng chưa thể giải quyết triệt để chính là hiện tượng số học sinh/lớp, số lớp/trường vượt quy định tại các trường tiểu học, trung học cơ sở ở khu vực trung tâm các thành phố. Điều đó dẫn tới việc nhiều trường học gặp khó khăn về cơ sở vật chất, đội ngũ.
Nguyên nhân do một số địa phương chưa thực hiện tốt công tác quy hoạch, không đảm bảo quỹ đất sạch để xây dựng cơ sở giáo dục. Ngoài ra, một phần còn do tình trạng di dân từ nông thôn đến các địa phương có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất dẫn đến tình trạng thiếu trường, lớp.
Trong khi đó, việc tuyển dụng, hợp đồng lao động đối với giáo viên, nhân viên bổ sung cho các cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đảm bảo thực hiện các hoạt động giáo dục còn rất chậm, gây khó khăn cho việc hoàn thành nhiệm vụ. Trong năm học 2018-2019, tổng số nhu cầu cán bộ, giáo viên, nhân viên các trường công lập là 21.756 người. So với số lượng người làm việc được giao năm 2018 là 20.748 chỉ tiêu thì còn thiếu 1.008 người so với nhu cầu sử dụng của năm học mới.
- Trước những khó khăn đó, ngành Giáo dục Quảng Ninh đã có những chuẩn bị gì cho năm học mới để việc dạy và học được ổn định?
+ Sở GD&ĐT, UBND các địa phương đã chỉ đạo, hướng dẫn các phòng GD&ĐT, cơ sở giáo dục thực hiện việc rà soát, bố trí, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ. Sở cũng đã có văn bản chỉ đạo các địa phương, đơn vị thực hiện một số nội dung chuẩn bị cho năm học mới 2018-2019, trong đó có việc chuyển đổi giáo viên, điều động, bổ nhiệm cán bộ quản lý và bổ sung hợp đồng lao động; tập huấn, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên, nhân viên trong hè theo các chương trình do Bộ, Sở và địa phương tổ chức.
Đối với công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, Sở GD&ĐT, UBND các địa phương đã tích cực đôn đốc, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng trong hè (cụ thể, xây dựng mới 426 phòng học, sửa chữa 785 phòng học), để phấn đấu hoàn thành trước khai giảng năm học mới. Cùng với đó, ngành cũng tích cực mua sắm các thiết bị, dụng cụ, hóa chất... phục vụ dạy và học trong năm học mới.
Theo đó, tổng số phòng học là 10.172 (tăng 556 phòng), trong đó số phòng học kiên cố là 9.186 (tăng 733 phòng). Tổng số phòng học bộ môn, chức năng là 1.573 (tăng 92 phòng so với năm học trước).
- Những chính sách mới mà ngành Giáo dục đã tham mưu trong năm học này cũng như giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học là gì?
+ Ngành đã tham mưu đề xuất xây dựng các dự thảo nghị quyết trình HĐND tỉnh tại kỳ họp thường lệ cuối năm 2018, giữa năm 2019 đảm bảo đúng quy định, quy phạm pháp luật. Trong đó, tập trung vào nội dung: Chính sách hỗ trợ tiền ăn cho học sinh tiểu học bán trú; tiền chăm sóc bán trú tại các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, THCS ở các xã trong danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn trên địa bàn tỉnh. Cùng với đó, ngành cũng tham mưu Đề án “Phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2018-2025 và định hướng đến năm 2030”. Trong đó tập trung vào việc tham mưu xây dựng các cơ chế, chính sách phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập.
Năm học này, toàn ngành sẽ tập trung vào 6 giải pháp sau: Nâng cao chất lượng quản trị hành chính công; tăng cường công tác tham mưu ban hành và hướng dẫn các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục - đào tạo; tập trung công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; tăng cường các biện pháp tham mưu, chỉ đạo để giải quyết một số khó khăn, vướng mắc, yếu kém; tăng cường kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh công tác truyền thông về giáo dục - đào tạo.
- Xin cảm ơn đồng chí!
Lan Anh (thực hiện)