Quảng Ninh hiện có trên 400.000 công nhân viên chức lao động (CNVCLĐ), trong đó nữ chiếm gần 42%, đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của tỉnh. Những năm qua đội ngũ này đã được sự quan tâm của tỉnh, doanh nghiệp, tuy nhiên hiện đời sống của đại bộ phận lao động nữ ở các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn.
Theo bà Nguyễn Thị Bích Phượng, Trưởng Ban Nữ công LĐLĐ tỉnh, nữ CNVCLĐ vừa đảm nhận vai trò chăm con, vừa tham gia lao động, sản xuất, nên áp lực rất lớn. Trong khi đó nhiều vấn đề cấp bách của CNLĐ nữ về nhà ở tại các khu công nghiệp, thu nhập, bảo hiểm xã hội, nơi sinh hoạt văn hoá, cơ sở nuôi dạy trẻ... chưa được giải quyết kịp thời.
Với thu nhập trung bình (làm việc đủ giờ theo quy định) là 4,5-5 triệu/đồng/tháng, hầu hết nữ CNLĐ được hỏi đều cho rằng, chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu của người lao động. Chị Đào Thị Lành, công nhân Phân xưởng Đóng gói, Công ty Nến nghệ thuật AIDI, chia sẻ: Nhiều lao động nữ vì muốn kiếm thêm thu nhập đã buộc phải tăng ca, dẫn đến thiếu thời gian chăm sóc gia đình, thời gian nghỉ ngơi phục hồi sức khỏe.
Dù các chế độ, chính sách đối với lao động nữ đã được các doanh nghiệp thực hiện đảm bảo đúng quy định, song tỷ lệ thỏa ước lao động tập thể có quy định có lợi hơn cho lao động nữ so với quy định của pháp luật còn thấp. Ở một số doanh nghiệp, tình trạng nợ lương, nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế kéo dài, gây ảnh hưởng đến việc chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, chốt sổ BHXH cho người lao động; chất lượng khám sức khỏe định kỳ, khám chuyên khoa phụ sản chưa được tốt; chưa hỗ trợ chi phí gửi trẻ, mẫu giáo cho lao động nữ có con trong độ tuổi gửi trẻ, mẫu giáo.
Đáng chú ý, nhà ở của CNLĐ trong các KCN chưa được giải quyết hiệu quả. Theo thống kê của LĐLĐ tỉnh, hiện có khoảng 55% công nhân trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh phải thuê nhà trọ. Do thu nhập thấp nên đa số thuê nhà giá rẻ, hoặc thuê chung, ở ghép, chất lượng nhà cho thuê kém, vệ sinh môi trường, điện, nước không đảm bảo an toàn.
Nhiều doanh nghiệp chỉ chú trọng tập trung cho sản xuất, rất ít quan tâm đến nhu cầu sinh hoạt, giải trí cho người lao động. Cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động văn hoá, thể thao gần như không có hoặc có thì phần lớn do các tổ chức, cá nhân xây dựng, mang nặng tính dịch vụ, dành cho đối tượng có thu nhập cao, công nhân không thể tham gia hưởng thụ và hoạt động thường xuyên… Việc duy trì sinh hoạt cho các tổ đội lao động nữ xa nhà của một số ban nữ công cơ sở hiện nay chưa thực sự hiệu quả.
Hiện trên địa bàn tỉnh có rất ít doanh nghiệp có nhà trẻ cho con CNLĐ; chỉ có các đơn vị trung ương đóng trên địa bàn duy trì được điều kiện này. Ở các KCN, nữ công nhân có nhu cầu gửi con rất lớn. Hiện có tới 80% gia đình công nhân phải gửi con ở các nhà trẻ tư nhân hoặc nhóm trẻ, cơ sở mầm non tư thục. Hầu hết các KCN hiện nay chưa có quy hoạch về xây dựng nhà ở, nhà trẻ mẫu giáo, cơ sở hạ tầng và các thiết chế văn hóa phục vụ người lao động. Hiện mới chỉ có 1 điểm trường mầm non KCN Cái Lân với quy mô 3 phòng học, trên 70 cháu phục vụ con CNLĐ được đưa vào sử dụng tháng 5 vừa qua.
Từ thực trạng trên cho thấy, còn nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết để nâng cao hơn nữa chất lượng đời sống, việc làm của lao động nữ trong các doanh nghiệp, nhất là vấn đề về nhà ở, nhà trẻ. Trước tiên cần sự chung tay của các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước. Cần quy định rõ việc người sử dụng lao động phải có trách nhiệm xây dựng phương án, kế hoạch giúp đỡ, hỗ trợ, xây nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc hỗ trợ một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo đối với lao động nữ có con trong độ tuổi gửi trẻ, mẫu giáo bằng tiền mặt hoặc hiện vật. Chỉ khi giải quyết những bất cập đó, người lao động mới có thêm động lực nâng cao năng suất lao động, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Thanh Hằng
[links()]