Nằm ngay ở khu vực trung tâm phường Quảng Yên (TX Quảng Yên) có một ngôi nhà gạch hai tầng mái lợp ngói đã nhuốm màu thời gian. Đây là ngôi nhà không có gì khác biệt hơn so với những ngôi nhà cổ được xây dựng từ thời Pháp hiện vẫn đang tồn tại ở thị xã cổ kính này. Nhưng điều mà ít người biết, rằng chủ nhân của nó - bác sĩ Lê Văn Cơ - chính là vị Đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của khu Hồng Quảng...
Từ một lương y thành người đại biểu của dân...
Tôi đến thăm căn nhà của cụ Lê Văn Cơ vào một sáng đông chớm lạnh. Tuy không báo trước nhưng khi tôi đến, cụ Lê Văn Lập (năm nay đã 94 tuổi), con trai cả của cụ Cơ, vẫn vui vẻ chào đón. Đã ở độ “tuổi vàng, tuổi ngọc” nhưng cụ Lập vẫn rất minh mẫn, đôi mắt vẫn còn tinh tường lắm.
“Ông nội tôi là cụ Lê Bá Khai (1870-1930) vốn quê gốc ở Gia Lâm, (trước thuộc Bắc Ninh, nay thuộc Hà Nội) đến lập nghiệp ở đất Quảng Yên này” - Cụ Lập kể - “Vốn là một nhà thầu khoán, ông nội tôi có nhiều bất động sản, từng xây nhiều dãy nhà ở Quảng Yên rồi cho người Pháp và cả người Việt thuê lại…”.
Là thương gia giàu có, những năm cuối đời, cụ Khai từng là dân biểu của Viện Dân biểu Bắc Kỳ. Cụ sinh được 3 người con, gồm 2 trai, 1 gái, trong đó người con trai út là Lê Văn Kim (đã mất năm 1945) là một người tài giỏi, là con rể quan Án sát Hà Nội, từng đỗ 5 bằng tiến sĩ bên Pháp. Con cháu cụ Kim giờ đều định cư bên Pháp cả.
| 70 năm trước, ngày 6-1-1946, đã diễn ra cuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc dân đại hội - Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Quốc hội đầu tiên hay Quốc hội khoá I gồm 403 đại biểu, trong đó có 333 đại biểu được bầu theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Tỉnh Quảng Ninh khi ấy gồm khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, trong đó khu Hồng Quảng có 3 đại biểu được bầu là Lê Văn Cơ, Trịnh Tam Tỉnh và Trần Danh Tuyên; tỉnh Hải Ninh có 3 đại biểu là Hoàng Mậu Thành, Nguyễn Hiền, Hoàng Văn Hà. |
Kinh tế gia đình khá giả, lại được sự quan tâm của cha mẹ nên cụ Cơ được bố mẹ cho ăn học chu đáo ngay từ nhỏ. Ban đầu cụ học y sĩ, sau đó học lên thi lấy bằng bác sĩ. Cụ rất say mê học, ngay cả khi đã thành nghề, mở phòng khám chữa bệnh. Cụ Lập kể những năm trước Cách mạng Tháng Tám, hàng tuần, qua những chiếc tàu của Pháp cập bến Quảng Yên, cụ Cơ vẫn đặt mua sách y học từ Pháp để trau dồi thêm kiến thức. Uy tín nghề nghiệp của cụ Cơ khiến cả những người Pháp cũng rất nể trọng. Có lần vợ viên công sứ Quảng Yên đau bệnh, bà này nhất định cho gọi bác sĩ Cơ đến điều trị chứ không tin dùng viên bác sĩ Pháp. Một bệnh nhân trong vùng được cụ Cơ chữa khỏi bệnh hiểm nghèo đã mang tặng cụ bức hoành phi ghi dòng chữ: “Hồi xuân diệu thủ”. Về sau, do chiến tranh, bức hoành phi đã bị thất lạc. Không những giỏi về tay nghề, cụ Cơ còn rất thương người. Chẳng kể bệnh nhân sang hèn, đã đến phòng khám đều được cụ hết lòng cứu chữa.
Cụ Lập kể, chính vì lòng thương người nên những lần vào trại giam chữa trị cho những người tù cộng sản theo lệnh Tuần phủ Quảng Yên Cung Đình Vận, tiếp xúc với họ, dần dần cụ đã chịu ảnh hưởng tư tưởng chính trị của họ, từ đó đưa cụ đi theo con đường chính nghĩa của Việt Minh và Chính phủ cách mạng của Hồ Chí Minh. Trong cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 6-1-1946, khu Hồng Quảng có 3 đại biểu được bầu. Bác sĩ Lê Văn Cơ đã trúng cử với số phiếu cao nhất, xếp trên 2 đại biểu Trần Danh Tuyên và Trịnh Tam Tỉnh.
Trong 14 năm ở vị trí Đại biểu Quốc hội khoá I, cụ Cơ đã làm tròn phận sự của người đại biểu nhân dân, tham gia kháng chiến và cứu chữa bệnh cho mọi người. Hoà bình lập lại, cụ tham gia công tác tại Bộ Y tế cho đến khi nghỉ hưu với chức Vụ phó Vụ Chữa bệnh của Bộ Y tế. Không ở lại Hà Nội, cụ Cơ chọn trở về sống tại căn nhà của mình ở Quảng Yên cho đến năm 1980 thì mất, hưởng thọ 83 tuổi. Hiện phần mộ của cụ an táng tại nghĩa trang nhân dân cạnh chùa Bằng, TX Quảng Yên…
Nơi thời gian như ngưng lại...
Sinh thời, cụ Lê Văn Cơ xây dựng gia đình với người vợ đầu là cụ Phan Thì Trà, con gái Đốc học Quảng Yên Phan Như Khuê, sinh được cụ Lập và một người con gái (đã mất 2014). Về sau, cụ Cơ thành thân với một người đàn bà nữa làm nghề hộ sinh, sinh thêm được 1 người con gái. Cả hai người tới nay cũng đã mất, thành ra trong những người thân thiết nhất trong gia đình cụ Cơ giờ chỉ còn lại cụ Lập.
Về phần cụ Lập, thời trai trẻ cũng được cha mẹ cho ăn học đàng hoàng. Tháng 3-1945, đang học Luật tại Hà Nội thì xảy ra sự kiện Nhật đảo chính Pháp, việc học hành đành bỏ dở dang nên cụ Lập trở về Quảng Yên tham gia phong trào của Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, cụ từng tham gia đội tiễu phỉ, đuổi phỉ vào tận Bang Trới (Hoành Bồ), tham gia bỏ phiếu bầu Đại biểu Quốc hội đầu tiên ngay trên quê hương mình. Hoà bình lập lại, cụ Lập công tác ở Ban Đối ngoại Trung ương rồi Nhà xuất bản Ngoại văn nhiều năm. Vì thế tới nay cụ vẫn thông thạo cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Cả 4 người con (hai trai, hai gái) của cụ Lập đều đang định cư ở Hà Nội nhưng cụ Lập vẫn ở lại căn nhà cũ của cha mẹ ở Quảng Yên cùng người vợ gần 90 tuổi. Hai vợ chồng già trong ngôi nhà cổ khiến tôi cảm thấy thời gian như đang ngưng lại ở nơi này! Nhất là khi được cụ Lập cho đi “tham quan” ngôi nhà; quả thực nó giống như một “Bảo tàng mini”. Trên diện tích 800m2 đất, ngôi nhà quay mặt ra đường, kế đến là khoảng sân nhỏ, bể nước, dãy nhà bếp và vườn cây. Trừ vườn cây ăn quả, còn lại dấu thời gian như bao trùm lên toàn bộ các công trình kiến trúc và nội thất ngôi nhà. Ngôi nhà được xây bằng gạch đỏ, trát vữa, gần như là hình vuông, gồm 2 tầng. Tầng 1 nền lát gạch hoa thời Pháp, với sự bài trí giữ nguyên từ thời cụ Cơ còn sống; có phòng làm việc, phòng tiếp khách, phòng bếp, nơi nghỉ ngơi cho chủ nhà (hoặc có thể là nơi dành cho bệnh nhân đến khám bệnh). Trong góc gian phòng này vẫn còn nguyên một lò sưởi kiểu Pháp. Đặc biệt, bên gian bếp vẫn còn chiếc chạn gỗ lim, trên cánh chạn có dán một bức ảnh dù bị gián nhấm và ố màu nhưng vẫn nhận ra đó là một nữ quý tộc Pháp. Trong chạn gỗ, còn nguyên vỏ hai chai rượu Hennessy cổ, lại còn cả 1 bộ phin pha cà phê bằng nhôm với cốc thuỷ tinh sản xuất bên Pháp…
Cầu thang và cả sàn tầng hai ngôi nhà đều làm bằng gỗ lim. Chỉ vào chiếc bàn vuông đơn sơ ở góc gian chính (nay dùng là nơi thờ tự), cụ Lập bảo đó là bàn làm việc của cụ Cơ ngày xưa. Do vì kèo đều làm bằng gỗ tốt nên mái nhà không bị dột, duy có trần nhà dù đã sửa nhiều lần nhưng vẫn còn nhiều chỗ bong tróc. Cụ Lập cho biết, sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ (tháng 12-1946), gia đình tản cư ra vùng kháng chiến, một người Pháp làm thầu khoán về xi măng đã đến ở căn nhà này, may mắn là ông ta không thay đổi gì ngoài sửa chữa một số mảng trần nhà. Mấy năm gần đây, do tuổi cao nên con cháu cụ đã làm thêm gian phòng vệ sinh khép kín thông với gian bếp và đó là những gì được coi là “hiện đại” nhất trong căn nhà cổ kính này.
Tiếp phía sau nhà là một khoảng sân có bể nước. Kế đó là lối đi nhỏ dẫn xuống dãy nhà bếp 4 gian. Gian nấu gồm 3 bếp lò để đốt than và củi. Đặc biệt, gian nhà vệ sinh vẫn còn bệ rửa tay, đường ống nước từ thời Pháp dù đã hoen rỉ, đứt gãy. Do lâu ngày, tường gạch đã bong vữa, rễ cây bò cả vào trong phòng. Giống như ngôi nhà trên, mái của khu bếp vẫn tốt, không bị dột là bởi toàn bộ ngói lợp nhà và bếp được nhập từ Pháp về. Trên mỗi viên ngói vẫn còn rõ chữ tiếng Pháp “Marseillaise Acier”. Chợt nhớ, Nhà thờ Đức Bà ở TP Hồ Chí Minh đang tu sửa, một trong các hạng mục quan trọng nhất là phải đặt cho được dòng ngói như thế này từ bên Pháp cho đồng bộ với các viên ngói đã lợp từ xưa…
Cụ Lập chia sẻ, con cái cụ cũng nhiều lần muốn đón cha mẹ lên Hà Nội để sinh sống nhưng cụ không đi, bởi cụ yêu mảnh đất này. Cụ muốn sống đến hết đời tại ngôi nhà của cha mẹ - nơi mình đã sinh ra và lớn lên với bao kỷ niệm khó quên. Hơn cả, cụ muốn ở đây để thờ cúng tổ tiên. Cụ muốn lưu giữ khung cảnh như ngày cha còn sống và đó là lý do ngôi nhà của cụ giống như là một bảo tàng…
Trần Minh