Chúng tôi gặp ông Lý Văn Sìn, dân tộc Sán Dìu, trú tại thôn Thống Nhất, xã Hải Lạng (Tiên Yên) thương binh hạng 4/4 trong ngôi nhà khang trang với đầy đủ tiện nghi. Bên ấm trà thơm nồng, ông chia sẻ: “Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi từng ấp ủ mơ ước được làm anh bộ đội. Ước mơ ấy đã trở thành hiện thực vào năm 1971, tôi nhập ngũ tham gia chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên khi mới 17 tuổi…”
Ký ức chiến tranh để lại trong ông nhiều kỷ niệm và cả những vết thương. Trở về sau cuộc chiến, ông nhận thấy quê mình đất rộng, người thưa nhưng do chưa xác định được hướng đi phù hợp nên bà con quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” song cái nghèo vẫn đeo bám. Gia đình ông cũng chẳng khá giả hơn, vẫn phải lên rừng đào củ khoai, củ sắn về ăn thay cơm mỗi kỳ giáp hạt… Từ đó, ông đã nung nấu ý định vươn lên làm giàu. Ban đầu, ông bàn với vợ nhận đồi hoang để cải tạo trồng vải thiều. Ngày đó, giống vải của địa phương phát triển chậm, năng suất thấp, ông đã lặn lội lên tận Thái Nguyên để mua giống. Song do không nắm vững được kỹ thuật chăm sóc, toàn bộ số vải đưa về trồng đã bị chết, gây thiệt hại cho gia đình hàng chục triệu đồng. Sự thất bại này đã làm cho gia đình ông vốn đã khó khăn càng trở nên khó khăn hơn. Không khuất phục số phận, ông đã dành nhiều thời gian đi các địa phương liền kề có chung thổ nhưỡng và khí hậu với quê mình để tìm hiểu kinh nghiệm sản xuất. Khi đã tường tận và nắm vững kiến thức, ông tiếp tục vay mượn từ bạn bè và người thân mạnh dạn áp dụng những kiến thức học được vào thử sức với các loại giống cây trồng, vật nuôi mới.
Và cứ thế, năm qua năm, “ông trời không phụ công người” ông làm đến đâu, thành công đến đó, bà con quanh xóm ai cũng nể phục. Hiện, gia đình ông đang có 4ha rừng cây keo đã được 7 năm tuổi chuẩn bị cho thu hoạch. Ông biết là trồng keo phải mất nhiều thời gian mới cho thu hoạch song vẫn quyết tâm mở rộng diện tích để làm kinh tế đồi rừng. Những năm đầu, cây keo còn nhỏ, gia đình ông đã tận dụng trồng xen cây lạc, một phần tăng thêm thu nhập cho gia đình, phần là nguồn thức ăn để chăn nuôi gia súc, gia cầm. Đặc biệt, năm 2000 xã Hải Lạng có chủ trương phát triển nghề nuôi tôm sú, ông mạnh dạn nhận 5 ha đất bãi triều để đắp đầm nuôi tôm. Do nắm vững được kỹ thuật nuôi thả, tôm trong đầm nhà ông phát triển rất tốt, mỗi năm trừ chi phí, ông thu về hơn 100 triệu đồng. Nhạy bén nắm bắt thị trường, ông đã đầu tư mua máy làm đá phục vụ nhu cầu đá ướp lạnh cho tôm của bà con trong xã, trung bình ông cung cấp khoảng 1 tấn đá lạnh/ngày. Ngoài ra, ông còn làm vườn ươm keo giống để cung cấp cho thị trường trong huyện… Từ mô hình kinh tế hiệu quả của gia đình ông, nhiều gia đình khác trong huyện đã tìm đến để học, làm theo và đều nhận được sự giúp đỡ tận tình.
Đỗ Linh