Để phát triển và nâng cao chất lượng CĐCS, LĐLĐ tỉnh đã chủ động đưa ra nhiều giải pháp như: Xây dựng chương trình công tác hoặc chương trình phối hợp với chuyên môn đồng cấp; tập trung thực hiện chức năng đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, CNVC-LĐ; xây dựng mối quan hệ hài hoà trong DN. Đồng thời, phát triển phong trào liên kết, kết nghĩa giữa các đơn vị công đoàn trên địa bàn nhằm trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ hoạt động công đoàn các địa phương, phối hợp thực hiện có hiệu quả các hoạt động trên địa bàn, góp phần xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh. LĐLĐ tỉnh cũng xây dựng các đề án chiến lược phát triển tổ chức công đoàn Quảng Ninh đến năm 2020 tầm nhìn 2030.
Tuy nhiên, để khắc phục những hạn chế và yếu kém trong công tác này, theo ông Đỗ Văn Khánh, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật Công đoàn (LĐLĐ tỉnh): LĐLĐ tỉnh cần phối hợp với UBND tỉnh, thành lập Ban chỉ đạo xây dựng và phát triển tổ chức công đoàn trong các thành phần kinh tế. Trong đó, LĐLĐ tỉnh là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo; từ đó thành lập Ban chỉ đạo tại cấp huyện, ngành. Bên cạnh đó, cần có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, toàn diện của các cấp uỷ Đảng, mối quan hệ phối hợp và hỗ trợ giữa chính quyền, ngành, địa phương và Công đoàn cấp trên cơ sở đến CĐCS trong DN một cách đồng bộ, tạo động lực cho sự phát triển SXKD của DN, gắn với thực hiện hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội với lợi ích cơ bản của NLĐ.
Công tác phổ biến và tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho NLĐ về các lĩnh vực chế độ, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước liên quan trực tiếp đến NLĐ cần phải đẩy mạnh bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú và sát với từng loại hình DN. Các cấp công đoàn phải chủ động, phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ chính sách về BHXH, BHYT, BHLĐ, đơn giá tiền lương, chế độ nâng lương, nâng bậc, thời giờ làm việc, chính sách đối với lao động nữ. Những chế độ này phải được đưa vào quy chế hoạt động của DN, trong HĐLĐ và thoả ước lao động tập thể. Có như vậy tổ chức Công đoàn cũng như các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới thông qua công tác kiểm tra, giám sát bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chính đáng cho NLĐ.
Hàng năm, tổ chức Công đoàn cần phối hợp chặt chẽ với chủ DN thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ, tổ chức Hội nghị NLĐ, Đại hội CNVC, nhằm phát huy trí tuệ tập thể, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch SXKD, tìm giải pháp để giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho NLĐ và thực hiện các chính sách, chế độ cho NLĐ theo quy định của pháp luật. Thông qua Hội nghị dân chủ cần sửa đổi, bổ sung các loại quy chế, được thực hiện đầy đủ và trách nhiệm thì quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ được thực hiện nghiêm túc cũng như lợi ích SXKD của chính DN, góp phần đưa nội dung Chỉ thị 22/CT-TW về “xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong DN” được thực hiện hiệu quả.
Hơn nữa, cần phải coi trọng thi đua là phong trào cách mạng quần chúng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục vận động quần chúng tự nguyện, tự giác thi đua như phong trào lao động giỏi, sáng kiến, sáng tạo, nếp sống văn hoá công nhân, tác phong giao tiếp ứng xử… Thi đua phải gắn chặt và thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ của ngành, của đơn vị, coi trọng chất lượng và hiệu quả. Có như vậy người sử dụng lao động mới thực sự coi trọng và hỗ trợ hoạt động của công đoàn.
Đặc biệt, “việc bố trí, sắp xếp sử dụng hợp lý cán bộ cần dựa trên nguyên tắc: “Vì việc tìm người” chứ “không vì người tìm việc”. Cần đánh giá đúng năng lực cán bộ công đoàn, coi trọng năng lực thực tế, năng lực trí tuệ, năng lực khoa học. Công tác công đoàn phải được coi như một nghề. Từ đó có chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn, có chế độ, chính sách động viên, khuyến khích cán bộ tích cực trong hoạt động công đoàn. Có cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn trong cơ chế thị trường.
Trung Anh