Nam Sơn là một xã nghèo nhất của huyện Ba Chẽ. Ở đây tập trung chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao sinh sống. Theo ông Hồ A Lộc, Phó Chủ tịch UBND xã Nam Sơn, tính đến thời điểm hiện nay, Nam Sơn vẫn còn đến 61,14% hộ nghèo. Đời sống kinh tế khó khăn như vậy nên sự nghiệp “trồng người” ở đây càng lắm gian nan. Có đến Nam Sơn mới cảm nhận hết được nỗi khó khăn của những thầy, cô giáo đang từng ngày đem cái chữ đến với con em bà con dân tộc thiểu số.
Các cô trò ở điểm trường lẻ Sơn Hải trong giờ học
Vào một ngày trung tuần tháng 11, chúng tôi có dịp tới thăm một số phân hiệu thuộc vùng sâu, vùng xa của trường PTCS Nam Sơn. Thầy Trịnh Xuân Tư, Hiệu phó và thầy Vi Quốc Nam, giáo viên dạy môn Hoá, cùng đi với chúng tôi. Đó là điểm trường Sơn Hải và Làng Mới. Đây là 2 trong số 6 điểm trường khó khăn nhất của trường PTCS Nam Sơn. Thầy Trịnh Xuân Tư cho biết, để đi đến các điểm trường này, có 2 cách lựa chọn, hoặc đi theo đường bộ, hoặc theo đường thuỷ. Tuy nhiên, đi bằng đường thuỷ thì phụ thuộc vào con nước, lúc này nước chưa lên cao nên đò không thể đi được, chỉ còn cách duy nhất là đi bằng đường bộ. Từ trường chính, vượt gần 20 cây số đường rừng, lội qua vài con suối, chúng tôi mới đến được điểm trường Sơn Hải. Khi đặt chân đến đây cũng là lúc trời vừa nhá nhem tối. Điểm trường Sơn Hải hiện ra lọt thỏm giữa bốn bề núi rừng vắng vẻ; đó là một dãy nhà xây cũ kỹ, gồm 3 phòng học và một phòng ở cho 5 giáo viên; ngoài ra còn có 2 phòng học tạm đan bằng tre, lợp ngói prô xi măng. Hiện ở đây có 4 cô giáo đang dạy tiểu học và 1 cô dạy mầm non. Cô nhiều tuổi nhất đã có trên 20 năm công tác, cô ít tuổi nhất cũng đã đi dạy được 3 năm. 4 cô giáo dạy tiểu học đã có gia đình riêng chỉ còn duy nhất cô giáo Hoàng Thị Hoa, giáo viên dạy mầm non là chưa lập gia đình, tất cả các cô nhà đều ở xã Đồn Đạc và thị trấn Ba Chẽ. Nhưng vì điều kiện đi lại khó khăn nên các cô phải ở lại nơi đây đến cuối tuần mới được về nhà. Các cô tiếp chúng tôi trong căn phòng chật chội, chỉ khoảng 10m2, liền kề phòng học. Căn phòng vừa đủ để kê 3 chiếc giường 1,2m ọp ẹp và 2 chiếc bàn học sinh để làm việc. Tài sản không có gì ngoài những chiếc hòm sắt đựng đồ dùng sinh hoạt cá nhân. Lúc chúng tôi đến cũng là lúc bữa cơm tối được dọn ra. Mâm cơm hôm nay ngoài rau cải luộc còn có cả tôm rang. Cô giáo Diệp Thị Tiên cười: Lẽ ra ngày cuối tuần là hết thức ăn rồi, thường thì chỉ có... lạc rang thôi. Nhưng hôm nay nhân tiện có người quen ở thị trấn ra chơi nên có người nhà gửi cho ít tôm rang!”.
Ở vùng sơn cước, đêm đến thật nhanh, nhoáng một cái mà bóng tối đã bao phủ cả bản làng. Sơn Hải có 54 hộ dân, bà con nơi đây sống chủ yếu là nghề rừng và làm nông nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 90%. Cô Hoàng Thị Thành, giáo viên dạy tiểu học kể, ở đây không có điện, buổi tối ăn cơm xong, các cô giáo tranh thủ đốt đèn dầu hoặc dùng nến thắp lên để soạn giáo án, ngoài ra không còn biết làm gì. Nhiều lúc buồn quá, buổi tối các cô rủ nhau xuống nhà dân xem ti vi. Cả bản có 3 chiếc ti vi đen trắng chạy bằng bình ắc quy nhưng để tiết kiệm, gia đình đó cũng chỉ mở một lúc thôi. Thế mà tối nào cũng có khoảng vài chục người đến xem. Đi xem ti vi ở nhà dân, các cô giáo còn phải mang ghế đi theo, không khác gì cảnh đi xem phim nhựa ở sân bóng ngày xưa. Hiện nay, ở Sơn Hải chỉ có duy nhất nhà trưởng thôn là có máy phát điện. Ngoài nỗi khổ về điện ra thì nước sinh hoạt cũng khó khăn không kém. Về mùa khô như thời điểm này, nước sinh hoạt rất hiếm; buổi sáng các cô phải dạy sớm để đi gạn từng thùng nước về nhà đổ vào chiếc chum nhỏ dùng làm nước ăn. Cô Thành cười, bây giờ có nước mà gánh là còn tốt, chỉ sợ vài tuần nữa, phải gạn từng gầu cơ! Bởi cả làng chỉ có khoảng 2 - 3 cái giếng, nhiều giếng ở đây đào xong rồi bỏ hoang vì không có nước. Vì thế, một giếng nước phục vụ gần 20 hộ dân...
Chong đèn soạn giáo án.
Tạm chia tay với các cô giáo điểm trường Sơn Hải, may thuỷ triều đang lên nên chúng tôi thuê đò tiếp tục đến điểm trường Làng Mới. Trời về đêm, gió thổi lạnh buốt, đêm cuối tháng không trăng, trời tối mịt mùng. Con đò rời bến Sơn Hải, đưa chúng tôi xuôi về hướng cầu Ba Chẽ. Nếu tính đường chim bay từ Sơn Hải đến Làng Mới chỉ khoảng 5 cây số. Nhưng chúng tôi phải đi đò mất gần 1 tiếng đồng hồ. Do thuỷ triều chưa đủ lớn nên đò không cập được bến, lại phải xuống thuyền gỗ chèo thêm một đoạn khá xa mới lên được bờ. Cũng giống như ở Sơn Hải, ở Làng Mới không điện, dân cư ở thưa thớt, bốn bề chỉ thấy một màu đen hun hút, thỉnh thoảng mới nhìn thấy một ánh đèn hắt ra từ một ngôi nhà nào đó khá xa. Chúng tôi phải dùng đèn pin để từ đường đến điểm trường Làng Mới. Thầy Trịnh Xuân Tư cho biết, đây là điểm trường cách trường chính xa nhất so với các điểm trường của các trường khác trên địa bàn toàn huyện. Đi bộ khoảng gần 15 phút chúng tôi đến được điểm trường Làng Mới. Tất cả các phòng học tối om chỉ có duy nhất phòng đầu là có ánh đèn sáng. Thì ra đây là phòng ở của giáo viên, các cô giáo đang soạn giáo án. Cũng như điểm trường Sơn Hải, ở Làng Mới cũng có 5 cô giáo dạy. Cuộc sống của các cô giáo ở Làng Mới còn khổ hơn cả ở Sơn Hải do đường sá giao thông đi lại khó khăn. Cô giáo Nguyễn Thị Năm, đã có 15 năm dạy học, đây là lần thứ 3 cô quay trở lại điểm trường Làng Mới này. Cô Năm nhớ lại lần đầu tiên đến dạy tại điểm trường Làng Mới, cô bảo mặc dù sinh ra và lớn lên tại huyện Ba Chẽ nhưng cô cũng không tưởng tượng ở quê hương mình lại có một vùng đất khó khăn đến như thế. ở đây không đường, không điện, nước sinh hoạt thì chủ yếu là nước lấy ở khe, nhưng đấy là mùa mưa còn đến mùa khô thì nước sinh hoạt hiếm hoi vô cùng. Các cô giáo ở dưới Sơn Hải, thỉnh thoảng còn được xem ti vi, còn các cô ở đây chẳng bao giờ có niềm vui ấy...
Đây chỉ là câu chuyện về đời sống giáo viên của 2 điểm trường trong 6 điểm trường khó khăn của trường PTCS Nam Sơn mà tôi đã được chứng kiến. Cô giáo Phạm Thị Tam, Hiệu trưởng trường PTCS Nam Sơn, cho biết: Theo nghĩa vụ, các thầy, cô giáo dạy bậc mầm non, tiểu học cứ lần lượt luân phiên nhau lên dạy học ở các thôn, bản. Tuy việc dạy học ở nơi đây khó khăn, vất vả là thế nhưng được biết, chế độ đãi ngộ cho giáo viên Nam Sơn vẫn thấp hơn so với các vùng khác trong huyện Ba Chẽ. Thiết nghĩ, nhà nước, tỉnh cần có những chính sách thích hợp, cần quan tâm đầu tư hơn nữa cho giáo viên xã Nam Sơn nói riêng và giáo viên dạy học ở những nơi vùng sâu, vùng xa nói chung. Có như vậy, các thầy cô giáo mới thực sự yên tâm công tác, đem hết tài năng trí tuệ của mình cho sự nghiệp “trồng người”.