Khoá luận chi phí tốn kém hàng chục triệu đồng. Những chuyến đi thực tế đầy khó khăn. Với các sinh viên nghệ thuật, mỗi khi đến mùa tốt nghiệp là một giai đoạn "long đong".
Những khóa luận…. siêu tốn kém
Dũng cùng các cộng sự đang căng mình cho tác phẩm của mình.
Đứng đầu trong danh sách những khóa luận “siêu tốn kém” phải kể đến dân quay phim, đạo diễn trường ĐH Sân khấu Điện ảnh. Bài tốt nghiệp của sinh viên trường này luôn luôn được sếp “đầu bảng” về mặt kinh phí. “Tổng chi phí cho bài tốt nghiệp của mình là 25 triệu đồng. Đấy có thể nói là mức chi phí ở dạng thấp của một khóa luận trường mình. Chi phí trung bình cho một phút phim khoảng 2 triệu. Phim của mình 12 phút, hết 25 triệu. Để hoàn thành một bộ phim tốt nghiệp mất khoảng 3 tháng” - Trần Minh Đức lớp Quay phim K23 kể.
Chỉ riêng chi phí diễn viên đã tốn một khoản khá lớn. Giá thuê trung bình một diễn viên nghiệp dư khoảng từ 400-500 nghìn/ngày. “Giá sẽ tăng tăng với “tên tuổi” của diễn viên.
“Mọi năm còn được nhà trường hỗ trợ 900 nghìn/khóa luận nhưng năm nay, khoản này lại bị cắt bỏ, nên sinh viên phải lo chi phí hoàn toàn từ A-Z ” - Đức nói.
So với chi phí từ 300-500 nghìn để hoàn thành một khóa luận ở các trường khác thì chi phí của trường này ngày càng “khủng”. Dũng sinh viên lớp Đạo diễn K22 đã phải làm việc cật lực để thời gian thuê máy và quay phim ngắn nhất có thể. Bởi nếu thời gian quay và thực hiện kéo dài thì đồng nghĩa với việc chi phí sẽ “leo” lên theo cấp số nhân.
“Một máy Betacam mình thuê một ngày hết 800.000 đồng, đèn 2000W có giá thuê 300.000 đồng/ngày, đền daylingh giá thuê cũng khoảng 400.000đ…Chưa kể tiền thuê đội ngũ kỹ thuật và chi phí cho diễn viên”. Một sinh viên mới tốt nghiệp khoa đạo diễn “hụt hơi” trong bảng thống kê của mình.
Phần hậu kỳ cũng tiêu tốn thêm một khoản tiền triệu. Chỉ riêng khoản thuê bàn dựng cho phim “Một nửa khoảnh khắc” của Dũng đã mất hơn 1 triệu. Đấy là chưa kể tiền thuê máy nổ, tiền thuê lồng tiếng và tiền thuê taxi để vận chuyển đạo cụ mỗi lần đi quay..
Sau những khóa luận của trường ĐH Sân khấu Điện ảnh, phải kể đến những luận văn bằng… “quần & áo” của sinh viên khoa thời trang trường ĐH Mỹ thuật Công nghiệp.
Lùng kiếm vải, thuê người mẫu... sinh viên Thời trang khá vất vả để có bài tốt nghiệp.
Với đề tài “Sáng tác trang phục dạ hội dựa trên cơ sở nghiên cứu vũ trụ hệ mặt trời”, Lê Minh Hảo, lớp Thời trang K13, Cao đẳng Mỹ thuật Công nghiệp có mức “tổn thất” gần 10 triệu đồng. Khoản tiền dành cho công cuộc “lùng vải” của Hảo đã mất đến tiền triệu.
“Trang phục dạ hội nên chất liệu vải dùng tương đối độc và khó tìm. Các loại voan thì mình lùng ở các chợ, còn các chất liệu như: vải thô ánh kim loại, da lộn… mình phải đặt hàng trên mạng. Khóa luận tốt nghiệp của mình khoảng 6-8 bộ trang phục. Chi phí cho bộ trang phục dạ hội như thế cũng chỉ ở mức trung bình…” Hảo kể lại.
Chỉ riêng khoản tiền thuê người mẫu trình diễn đã mất một khoản tương đối. Thù lao của một ngưòi mẫu dù ở mức sinh viên vẫn cứ là 500.000 đồng, cả lớp phải thuê 2 đội người mẫu chuyên nghiệp gồm 10 người mẫu nữ và 5 người mẫu nam. Đấy là chưa kể tiền 600.000 đồng mỗi thành viên trong lớp phải nộp để cùng thuê nhạc công và chuẩn bị ánh sáng sân khấu. Tiền công may khoảng 300.000/bộ, cộng thêm các khoản chi phí đi lại… Chưa tính đến nếu may hỏng, thì chi phí “bộn” lên nhiều phần. Thế nhưng ngân sách dành cho sinh viên làm bài khóa luận thì hoàn toàn không có, sinh viên phải trông chờ vào khoản trợ cấp… “butachi”.
“Long đong”…mùa khóa luận
Trung Kiên đang tác nghiệp ngoài khơi.
Mùa làm khóa luận của sinh viên được gọi là mùa “long đong”. Để hoàn thành bộ phim “Một nửa khoảnh khắc” với điểm 9 không phải là chuyện đơn giản.
Sau khi tìm cho mình một kịch bản ưng ý bằng việc tự mình chuyển thể truyện ngắn “Chết ban đêm” của Mỹ, Dũng phải cùng họa sĩ thiết kế rong ruổi khắp nẻo đường tìm bối cảnh. Với bối cảnh ngoại và bối cảnh rộng như phim của Dũng thì việc tạo hiệu quả ánh sáng rất khó khăn. Nhất là những cụm cảnh đêm làm sao để dùng đèn nhưng hình ảnh vẫn rõ và trung thực nhất.
Cảnh quay đầu tiên là cảnh đêm trong một công viên khi một cô gái đi tự tử thì chứng kiến một tên sát nhân giết người… Bộ phim chỉ 12 phút với 150 đúp quay nhưng có những đúp Dũng phải quay cả chục lần thì mới có thể dùng được.
Trước một khoản chi phí có thể gọi là “rất khủng” như thế nhiều sinh viên phải cày cuốc kiếm tiền để hoàn thành “bài tập” lớn nhất đời sinh viên. Nhiều sinh viên không chịu nổi việc “tăng nhiệt” đã nghĩ đến việc cầm đồ.
Trần Minh Đức lớp quay phim lại chọn giải pháp: làm phim chung. “Một người làm đạo diễn, một người làm quay phim…”. Hoàn thành bộ phim tốt nghiệp “Lên phố”, Đức mất 3 tháng từ việc tìm “đối tác”, viết kịch bản, quay phim và dựng. Đức kể: “đối tác của mình là một sinh viên nữ năm 3 lớp đạo diễn, việc kết hợp này cũng rất hay vì mỗi người mạnh một chuyên môn…”
Đức còn cho biết thêm: hầu hết bạn bè của cậu đều tìm cách “giảm nhiệt” cho khóa luận bằng cách kết hợp, hoặc rủ bạn làm cùng, các biện pháp như “tăng nhờ, giảm thuê…” được tích cực tận dụng. Nhưng cũng có những sinh viên “sẵn sàng” đầu tư kinh phí thuê những chuyên gia viết kịch bản hoặc những “tay máy cừ” để cho bộ phim tốt nhiệp của mình thật “trơn tru” và chuyên nghiệp. Vì thế mà có bộ phim tốt nghiệp của lớp đạo diễn với chi phí lên tới 60 triệu đồng. Bộ phim “Quỳnh” về đề tài đồng tính nữ của Linh Nga, Đạo diễn K22 năm ngoái là một ví dụ. Với phim này, Linh Nga được thủ khoa tốt nghiệp.
Còn Lê Minh Hảo, để có được chừng 5 phút đọc phần giới thiệu và 10 phút trả lời câu hỏi phản biện, cô phải chuẩn bị hàng tháng liền. Có được 15 phút ấy là một hành trình đi lùng vải ở khắp chợ Hôm, chợ Đồng Xuân, chợ Ninh Hiệp và “lang thang” trên các trang “fashion design” trên mạng của Hảo. Đổi lấy là lời khen từ Hội đồng chấm thi: “đó là một bữa ăn bề bộn màu sắc nhưng… tinh tế”.
Dân Nhiếp ảnh cũng không kém phần "long trọng". Một bài tốt nghiệp của dân ảnh quy định gồm: 1 bộ ảnh phóng sự (từ 18-25 chiếc), 5 ảnh đơn và 1 sản phẩm ứng dụng (ảnh quảng cáo, áp phích hay 1 cuốn cuốn sách ảnh).
Chọn đề tài là "Đôi nét trẻ em Thoọng Pẹ, đường biên Lào", nữ sinh viên Nguyễn Lê Na, lớp nhiếp ảnh K23 đã phải sang "thực địa" ở Lào gần 2 tháng trời. Một thân một mình trên đất bạn, xa nhà lâu, tiếng không rành, ăn uống không hợp khẩu vị, đành trường kỳ kháng chiến mỳ tôm... là những gì Lê Na phải "trả" để có được "tác phẩm" độc đáo của mình.
Hà Văn Nam cùng khoá còn long đong, lận đận hơn. Trót đem lòng yêu thích sông nước miền Tây, sau Tết, Nam vác máy móc, đạo cụ vào "ăn dầm, nằm dề" ở Cần Thơ để thực hiện đề tài "Chợ nổi miền Tây".
Một trong những lần đang say sưa tác nghiệp trên mũi ghe thì xảy ra tai nạn nghề nghiệp. Một chiếc cano chở khách du lịch đã va chạm vào thuyền làm Nam cùng chiếc máy ảnh khá đắt tiền rơi thẳng xuống nước. Người thì không sao, nhưng máy thì tất nhiên là đã "đi về nơi xa". Mất máy, Nam cũng đành phải từ bỏ luôn đề tài ruột, để về Hà Nội xin chuyển đề tài.
Còn sinh viên Lê Trung Kiên, lớp nhiếp ảnh K23 cũng phải từ bỏ đề tài khoá luận yêu thích ấp ủ từ lâu vì một lý do tế nhị khác. Dự định chọn chất liệu khai thác là trại giam K1, Mỹ Lung, Tân Lập, Phú Thọ để miêu tả cuộc sống, tâm tư của những cuộc đời lầm lỗi, nhưng Kiên gặp nhiều rắc rối trong khâu thủ tục giấy tờ và đành phải "say goodbye".
Chuyển sang đề tài "Sống với biển", thực hiện tại vùng biển Quảng Nham, Thanh Hoá, cậu đã phải "phượt" từ Hà Nội về 3-4 lần để thực hiện.
"Sống với biển" nghĩa là phải ra khơi. Từ 3h sáng đã phải trở dậy để "bám càng" những ngư dân ra biển. Phạm vi tác nghiệp chỉ là mấy mét vuông chật hẹp của lòng bè, cộng với sự chòng chành "khó chịu" khi lênh đênh giữa sóng nước, để tạo được những góc máy lạ, những khuôn hình độc, Kiên đã phải trả giá bằng những cơn say sóng kéo dài đến hàng ngày.
... Với nhiều sinh viên nghệ thuật, những khó khăn như thế đã là một phần kỷ niệm của những ngày đầu vào nghề.