Ngày 25-4-1955, Vùng mỏ thân yêu hoàn toàn giải phóng khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Với tư cách người làm chủ đất trời, sông biển, quê hương, thợ mỏ cùng với toàn dân Quảng Ninh tự hào lao động, xây dựng cuộc sống mới. Trong sự nghiệp đổi mới hôm nay, truyền thống đấu tranh cách mạng ấy vẫn được tiếp tục phát huy.
Vùng mỏ thời tăm tối
59 năm sau giải phóng, nhưng ký ức một thời “gông xiềng” vẫn không thể nào quên được trong ký ức những người đã từng sống, chiến đấu, làm việc trên quê hương Quảng Ninh. Hơn hết họ là những người hiểu và trân trọng giá trị của sự đổi thay ngày hôm nay. Ông Kiều Văn Kiên, 85 tuổi ở khu Lán Bè (TP Hạ Long) kể, thời bấy giờ đời sống công nhân vùng mỏ rất khổ cực, phải làm quần quật từ 4 giờ đến 21 giờ, cực thế nhưng một tháng cũng chỉ được 5 xu tiền công và 3 lạng gạo. Đa số các gia đình công nhân thời đó phải tranh thủ nấu muối bán cho dân phường chài để kiếm thêm thu nhập. Người dân khi đó hầu hết mù chữ, cả gia đình ông thời bấy giờ chẳng ai biết chữ và ở trong những túp lều cài cây, ráp bùn, lợp gianh.
Còn nhớ năm ngoái, trong một dịp gặp mặt các cựu chiến binh Vùng mỏ, ông Nguyễn Văn Đa, 86 tuổi, ở phường Cẩm Sơn (TP Cẩm Phả) đã vô cùng xúc động khi kể về kiếp nô lệ của những công nhân mỏ như ông mới thấu hết nỗi khổ của người dân thời bị áp bức. Dưới thời của chủ mỏ Pháp ông và các đồng nghiệp phải đi làm chân đất, không trang bị bảo hộ lao động, không xe đưa đón, công việc khai thác than hầu hết là thủ công, thường xuyên bị đánh đập, cúp công, cúp lương. Tai nạn lao động sập lò, cháy lò, lở tầng… liên tục xảy ra do sự thiếu trách nhiệm ở khâu quản lý của cai mỏ. Rồi được sự giác ngộ của cách mạng, trước ngày giải phóng 1 tuần, tất cả công nhân mỏ trong đó có ông đã vùng lên đấu tranh chống lại chủ mỏ. Đến ngày 22-4-1955, bộ đội ta tiến vào tiếp quản Quảng Yên, Cửa Ông, Cẩm Phả trong không khí mừng vui khôn xiết của nhân dân. Vùng mỏ thân yêu được cởi bỏ gông xiềng, hoàn toàn giải phóng khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp...
Đại tá Nguyễn Quang Vinh, nguyên Bí thư Đảng uỷ, Phó Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh cho hay, hoà bình thì mừng, thế nhưng sau niềm vui giải phóng, Đảng bộ và nhân dân Quảng Ninh phải đối diện với biết bao khó khăn do hậu quả chiến tranh, tàn phá của thực dân Pháp. Máy móc thì bị tàn phá, công nhân thì bâng khuâng chưa hiểu đời sống sẽ ra sao, chưa làm chủ được khoa học kỹ thuật; đời sống nhân dân thì khổ cực, như gia đình ông và nhiều gia đình khác có ăn cháo gắm (quả gắm hái trên rừng phơi khô dùng để nấu cháo dần) mà ăn đã là hạnh phúc; giao thông thì bị tàn phá, đi lại khó khăn…
Viên ngọc sáng vùng Đông Bắc Tổ quốc
Mấy chục năm qua đi, ông Kiều Văn Kiên, người lính già năm xưa vẫn nguyên vẹn niềm tin yêu quê hương Tổ quốc trong trái tim. Ông phấn khởi khoe với chúng tôi, khi Quảng Ninh tổ chức cuộc thi tìm hiểu “Quảng Ninh 50 năm xây dựng và phát triển”, ông đã ngày đêm mải miết viết bài tham gia bằng tất cả tình yêu và tâm huyết. Và trong bài thi, ông đã nói về sự tiến bộ bất ngờ của Quảng Ninh: “50 năm có bấy nhiêu ngày/ Quảng Ninh phát triển đổi thay biển trời”. Quả thực từ một Quảng Ninh bị tàn phá, nghèo nàn, lạc hậu, đói khát, người mù chữ chiếm số đông… đến nay đã trở thành 1 trong 7 tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành kinh tế xuất sắc cả nước, từ vị trí thứ 20 về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, Quảng Ninh đã vượt lên đứng thứ 4 toàn quốc năm 2013, là một trong những trung tâm điện, khoáng sản, du lịch của cả nước.
Từ nhiều năm tỉnh đã đưa ra những chính sách phát triển kinh tế - xã hội có tính chiến lược; quan tâm đầu tư, tập trung quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng không gian đô thị, xây dựng các công trình công cộng, chỉnh trang đô thị và cải thiện môi trường sống của nhân dân... Đảm bảo các yếu tố sẵn sàng trong công cuộc hội nhập quốc tế. Sau gần 30 năm đổi mới, hệ thống giao thông đường bộ, đường biển của Quảng Ninh được nâng cấp và đầu tư, bên cạnh đó là các công trình lớn được đánh giá tích cực trong sự phát triển của tỉnh, thiết chế xã hội phục vụ nhân dân như: Đưa điện lưới quốc gia ra đảo Cô Tô; Công viên Hạ Long, Quảng trường 30-10, Bảo tàng - Thư viện tỉnh... vừa được đầu tư xây dựng. Ở nông thôn, thông qua nhiều công trình, hoạt động hỗ trợ, chính sách phát triển trong chương trình xây dựng nông thôn mới, bộ mặt nông thôn đã có sự thay đổi tích cực. Đến nay tất cả các huyện đều có trường học các cấp đạt chuẩn, bệnh viện, các xã đều có trạm y tế, đường giao thông, điện nông thôn hầu hết được hoàn thiện.
Tự hào với những gì mà Quảng Ninh đạt được, ông Vũ Thanh Đạm, nguyên cán bộ Tuyên giáo Tỉnh uỷ khẳng định: Đáng ghi nhận trong sự phát triển của tỉnh là tư duy đổi mới, dám nghĩ dám làm. Từ khó khăn tỉnh đã cơ bản đã giải quyết những thách thức và đưa ra chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn như tăng cường và mở rộng đối ngoại, sẵn sàng là bạn, là đối tác, mở rộng xúc tiến đầu tư.
Với định hướng trên, thu hút FDI của Quảng Ninh đã có những chuyển biến mới, có nhiều dự án quy mô lớn, các lĩnh vực trọng điểm được tăng cường (như điện lực, công nghiệp chế biến, phụ trợ, du lịch, dịch vụ...). Đến nay có 94 dự án FDI còn hiệu lực tại Quảng Ninh với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 4.539 triệu USD tính tới thời điểm tháng 2-2014. Các nguồn vốn ODA, NGO trong giai đoạn này cũng có sự tăng mạnh so với giai đoạn trước (vốn ODA tăng gấp 1,2 lần, viện trợ NGO tăng gấp 2,12 lần so với 20 năm trước đây). Đáng nói là Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh và thí điểm xây dựng 2 đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Móng Cái” cùng hội thảo quốc tế về đặc khu kinh tế Vân Đồn vừa qua đã khẳng định năng lực xây dựng mô hình phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt tại những địa bàn có tiềm năng khác biệt, nổi trội và lợi thế cạnh tranh của Quảng Ninh.
Nhờ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, kinh tế Quảng Ninh đã tăng trưởng cao và khá ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm 2006-2010 đạt 12,7%/năm, cao gấp 1,8 lần so với năm 2005; cao gấp 1,81 lần so với GDP cả nước trong cùng giai đoạn, thu nhập bình quân đầu người/năm của Quảng Ninh luôn ở mức cao hơn so với mức bình quân của cả nước.
Chia tay chúng tôi, ông Nguyễn Quang Vinh xúc động: Ngày hôm nay, quê hương Vùng mỏ đã thay da đổi thịt, nhiều người dân Quảng Ninh đã ấm no, hạnh phúc. Chúng tôi rất phấn khởi với sự đổi thay đó và thường xuyên nhắc nhở con cháu phát huy tinh thần “kỷ luật và đồng tâm”, truyền thống cách mạng của Vùng mỏ anh hùng.
Thanh Hằng