Với hệ thống mạng lưới giao thông thuỷ nội địa trên địa bàn đa dạng, phức tạp trong đó: 25 luồng tuyến, sông do trung ương quản lý dài trên 425,6km (gồm 173km sông loại 1, 146km sông loại II và 106,6km sông loại III) tạo điều kiện cho Quảng Ninh tiếp cận với các tỉnh phía Bắc và lưu thông với đường biển. Đặc biệt có rất nhiều tuyến quan trọng như: Tuyến giao thông đường thuỷ nội địa (ĐTNĐ) từ Hạ Long đi Móng Cái là tuyến giao thông thuỷ nội địa huyết mạch, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế biển vùng Đông Bắc; các tuyến luồng từ bờ ra các đảo như Cái Rồng - Cửa Đối, Hòn Đũa - Cửa Đối, Hạ Long - Cát Bà… có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt an ninh - quốc phòng trên vùng biển phía Đông Bắc; các tuyến sông Mông Dương, Tiên Yên, Ka Long, Sông Trới… là các tuyến vận tải thuỷ quan trọng, tập trung hệ thống cảng biển thuỷ nội địa đan xen trong đó chủ yếu là các cảng, bến xuất than và lưu chuyển hàng hoá. Cùng với đó, luồng chuyên dùng của các doanh nghiệp do địa phương quản lý có 10 tuyến dài trên 167km.
Với tính chất quan trọng của ĐTNT, trong những năm qua, công tác quản lý luồng lạch được các đơn vị quản lý từ trung ương đến địa phương tăng cường đầu tư. Các tuyến do trung ương quản lý hầu hết đạt tiêu chuẩn cấp I, II, đầu tư tàu công tác, tàu thả phao, tàu nạo vét. Xây dựng mới và nâng cấp nhà trạm, mở các trạm đếm phương tiện mới trên các tuyến vận tải, lắp đặt hoàn chỉnh hệ thống báo hiệu (đặc biệt là báo hiệu điện). Các tuyến do địa phương quản lý cũng đã được đầu tư tương đối đầy đủ hệ thống báo hiệu, quản lý bảo trì bài bản, đúng quy trình kỹ thuật chuyên ngành, hiện tại cơ bản đáp ứng được nhu cầu đi lại vận tải của nhân dân qua các luồng tuyến ĐTNĐ trên địa bàn. Tuy nhiên, ĐTNĐ trên địa bàn tỉnh hiện nay vẫn còn nhiều bất cập như trên địa bàn huyện Cô Tô, Vân Đồn còn 5 tuyến luồng từ bờ ra đảo và nối các đảo có tổng chiều dài 186km chưa được quy hoạch và đưa vào quản lý. Việc khai thác giao thông thuỷ các tuyến luồng này chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của thuyền trưởng và người điều khiển phương tiện. Trong khi đó hoạt động ở trên khu vực luồng tuyến này ngày càng phát triển cả về số lượng và chủng loại trung bình có khoảng 1.200-1.500 phương tiện lưu thông/tháng. Tuyến ĐTNĐ do địa phương quản lý có một số chưa đáp ứng được nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng như: Luồng sông Sinh đoạn cửa luồng có nhiều tàu pha sông biển ra vào làm hàng các cảng bến tại khu vực, tần suất hoạt động trên luồng của các loại tàu đạt thấp do cạn; luồng sông Trới do tình hình biến đổi dòng chảy, các dự án san lấp dọc tuyến và sự bồi lắng từ mưa lũ thượng nguồn nên một số đoạn không đảm bảo an toàn và tiêu chuẩn cấp luồng.
Chính vì vậy, để tận dụng tối đa về lợi thế vận tải đường biển và vận tải thuỷ nội địa của tỉnh nhằm phục vụ hàng hoá xuất nhập khẩu và tiêu dùng góp phần thúc đẩy kinh tế cảng biển phát triển, cần sớm triển khai thực hiện tốt quy hoạch tuyến luồng ĐTNĐ. Trong đó, cần tập trung phối hợp với cơ quan quản lý đường thuỷ nội địa Trung ương để đầu tư nạo vét, chỉnh trị gia cố kè bờ và định hướng tuyến. Đưa các tuyến đang khai thác tự nhiên vào quản lý, tổ chức quản lý hành lang bảo vệ luồng theo phân cấp và các định hướng nạo vét cục bộ các tuyến luồng, xây dựng kè bảo vệ những đoạn sông kênh bị xói lở cùng các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông đường thuỷ nội địa. Nâng cấp, xây dựng các bến tàu khách đi du lịch tại các đảo, các tuyến tàu khách cao tốc phát triển các phương tiện vận chuyển khách du lịch và các phương tiện phà, tàu khách đảm bảo tiêu chuẩn, có đầy đủ tiện nghi và trang bị an toàn. Đường biển tập trung phát huy tối đa lợi thế vận tải đường biển của tỉnh, tiếp tục đẩy mạnh đầu tư về hạ tầng cơ sở vật chất cảng biển, nâng cao chất lượng cạnh tranh dịch vụ cảng biển.
Trung Thành