Trong 2 năm trở lại đây, việc triển khai Đề án 25 (Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế) đã thực sự trở thành tâm điểm của ngành Giáo dục - Đào tạo (GD-ĐT). Ở Hải Hà, Trưởng Phòng GD-ĐT huyện Đồng Mạnh Hùng chia sẻ: “Chúng tôi không làm Đề án 25 bằng mọi giá mà phải trên cơ sở điều kiện thực tế; sự đồng thuận của người dân và quan trọng nữa là phải đặt quyền, lợi ích của học sinh lên hàng đầu”...
Chuyện về lớp học “một cô, một trò”...
Đọc bài báo “Đìu hiu thôn mới Tân Đức” đăng trên báo Quảng Ninh số ra ngày 23-9-2015, tôi giật mình khi biết ở điểm trường Tân Đức (xã Quảng Đức, huyện Hải Hà) có một lớp học chỉ… một cô, một trò. Điểm trường này vốn dĩ ban đầu cũng có khá đông học sinh, nhưng do đây là vùng kinh tế mới, nhiều hộ dân không “trụ” lại được đã tự ý bỏ về quê. Vì thế, số học sinh của điểm trường cũng “rơi rụng” dần. Năm học 2015-2016, điểm trường chỉ còn chưa đầy 10 học sinh, nên đã được xếp vào danh sách thực hiện Đề án 25. Trong khi các bạn đều đã di chuyển về điểm trường chính để học thì Tằng Ửng Múi - học sinh duy nhất lại không thể vì hoàn cảnh gia đình… Vì thế nhà trường đành phải bố trí 1 giáo viên ở lại dạy cho em.
Đem chuyện này chia sẻ với Trưởng Phòng GD-ĐT huyện Đồng Mạnh Hùng, anh cười, bảo: “Chuyện này không chỉ mình nhà báo quan tâm đâu. Sau khi bài báo đăng trên báo Quảng Ninh, nhiều cấp quản lý gọi điện “gõ” đầu mình lắm. Cũng phải thôi, đang thực hiện Đề án 25 mà ở Hải Hà lại có chuyện “lãng phí” vậy!”. Giọng trầm hẳn xuống, anh chia sẻ: “Ban đầu, điểm trường Tân Đức không nằm trong kế hoạch thực hiện Đề án 25 của ngành mình. Sau khi rà soát, nhà trường đã chủ động đề xuất dồn điểm trường, dồn lớp. Xem xét kỹ lưỡng toàn bộ điều kiện, quy trình, kể cả sự đồng thuận của người dân, Phòng GD-ĐT huyện mới đồng ý. Nhưng khổ một nỗi, ở đó có 1 học sinh lại không thể di chuyển về điểm trường chính vì điều kiện gia đình rất khó khăn, bố, mẹ già yếu, chưa đồng thuận. Trong lúc vừa vận động phụ huynh đó cho con về điểm trường chính học, nhà trường vẫn phải duy trì một cô giáo kèm cặp, giúp đỡ để việc học của em không bị gián đoạn. Hơn nữa, học sinh này rất ham học. Quan điểm của ngành, không làm Đề án 25 bằng mọi giá mà phải trên cơ sở điều kiện thực tế; sự đồng thuận của người dân và quan trọng nữa là phải đặt quyền, lợi ích của học sinh lên hàng đầu”.
Những chia sẻ của Trưởng Phòng GD-ĐT huyện Đồng Mạnh Hùng đã khơi dậy trí tò mò và càng thôi thúc tôi đi tìm hiểu về hoàn cảnh và sự ham học của học sinh có cái tên Tằng Ửng Múi này.
Đến thăm cô bé học trò Tằng Ửng Múi...
Con đường dẫn vào thôn Tân Đức tuy nhỏ, hẹp và ngoằn ngoèo nhưng đã được bê tông hoá. Trái ngược với khung cảnh đầu thôn có nhiều ngôi nhà cấp 4 nằm kế nhau bị khoá cửa bỏ hoang, thì ở cuối thôn, dân cư lại rất thưa thớt; thỉnh thoảng chúng tôi mới gặp một nóc nhà. Đất đai ở khu vực này cũng rất cằn cỗi với vài mảnh ruộng bé xíu ghép lại với nhau...
Để vào được nhà của Tằng Ửng Múi, chúng tôi phải nhờ đến sự trợ giúp của 2 thầy giáo “cắm bản” đang dạy học ở điểm trường Pạc Này (thuộc Trường Tiểu học Quảng Đức) làm “phiên dịch” (Vì bố mẹ em không biết tiếng Kinh).
Ngôi nhà của gia đình Tằng Ửng Múi nằm trơ trọi trên một quả đồi, cách trục đường chính của xã chỉ chừng 500m nhưng lại bị ngăn cách bởi một con suối. Thầy giáo Tằng Dếnh Thoòng, một trong 2 người dẫn đường cho chúng tôi, chỉ xuống lòng suối bảo: “Mùa khô, mức nước của con suối này chỉ đến lưng bụng, nhưng chỉ một cơn mưa, nước lũ về là Múi không thể qua suối. Ngày hôm đó, em sẽ phải nghỉ học”.
Mẹ của Ửng Múi - bà Tằng Tài Múi - năm nay mới 51 tuổi nhưng gầy đét, móm mém và già như bà cụ 70. Qua lời “phiên dịch” của thầy Thoòng, Tằng Ửng Múi là con thứ 5 trong gia đình có 7 chị em. Trong đó, 3 chị gái lớn đã đi lấy chồng; cậu em trai út duy nhất - Tằng Văn Đạt 5 tuổi là do bố, mẹ Múi “mua” ở xã Quảng Sơn (Hải Hà) về khi em mới 3 tuổi với giá 9 triệu đồng (?). Thầy Thoòng cho biết: “Theo phong tục của người dân tộc Dao, cả 6 chị em gái của Ửng Múi đều tên là Múi và được phân biệt theo thứ bậc qua tên đệm. Con cả là Tằng Tài Múi; thứ 2 là Tằng Nhì Múi, thứ 3 là Tằng Xám Múi, thứ 4 là Tằng Si Múi, thứ 5 là Tằng Ửng Múi, thứ 6 là Tằng Lộc Múi. Ở đây, tư tưởng trọng nam, khinh nữ vẫn còn nặng nề lắm, nhà nào không đẻ được con trai, dù nghèo mấy thì nghèo cũng đều dành tiền đi mua con trai về để có người nối dõi. Đầu năm nay, cùng với sự hỗ trợ của địa phương, gia đình Ửng Múi đã bán 2 con trâu được 40 triệu đồng để xây lại ngôi nhà 3 gian lợp ngói prô-xi-măng này đấy”.
Căn nhà của gia đình Múi cũng tềnh toàng như chính gia chủ, không có gì đáng giá; 3 chiếc giường ngủ được kê bằng dát tre, lồi lõm thanh còn, thanh mất. Góc nhà là 2 bao thóc lép lẫn cả bùn và đất. Còn nhà bếp, vốn tận dụng lại từ ngôi nhà cũ, mái lợp lá cây, tường trình, vách đất. Đã quá giờ cơm trưa, nhưng trên bếp vẫn chỉ ninh một nồi cháo to. Chỉ vào nồi cháo trắng lõng bõng nước, bên cạnh là một chiếc nồi nhỏ với vài cộng dưa cải muối nơi góc bếp, thầy Thoòng bảo: “Bà con ở đây nấu 1 nồi cháo ăn cả ngày. Ăn kèm cháo cũng chỉ có dưa kho thôi”.
Theo lời kể của các thầy, cô giáo ở Trường Tiểu học Quảng Đức, tuy gia cảnh khó khăn, bố, mẹ già yếu, nhưng Ửng Múi rất ham học. Khi nhà trường vận động, các phụ huynh khác đều cho con ra điểm trường chính học, riêng gia đình Ửng Múi, bố mẹ đã già, nhà lại không có nổi một chiếc xe đạp làm phương tiện đi lại, nên không đồng ý cho con ra lớp. Thế mà Ửng Múi không chịu từ bỏ ước mơ, khát khao được đến trường. Thấy vậy, thầy cô giáo một mặt vừa động viên gia đình, vừa phải duy trì việc dạy học cho Múi. “- Thế nên mới có chuyện “một cô, một lớp, một trò” như nhà báo nghe thấy đấy!” - Cô giáo Nguyễn Thị Hưng nói với chúng tôi như vậy.
Vẹn đôi đường
Ngày chúng tôi đến Quảng Đức, lớp học “một cô, một trò” đã không còn nữa. Không phải là vì Ửng Múi bỏ học, mà vì nhà trường đã vận động được bố, mẹ Ửng Múi tiếp tục cho em đi học. Để thuyết phục được gia đình Ửng Múi, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho em đến lớp, nhà trường đã chuyển em lên học cùng với các bạn ở điểm trường Pạc Này (cũng thuộc Trường Tiểu học Quảng Đức). Cô giáo Nguyễn Thị Hưng phấn khởi nói: “Điểm trường Tân Đức nằm ở khoảng giữa của điểm trường chính và điểm trường Pạc Này. Từ nhà của Ửng Múi đến Pạc Này là 5km, còn về điểm trường chính là 4km. Nếu cho em về điểm trường chính học, em sẽ phải đi bộ mà như vậy thì quá xa; trong khi đó, hàng ngày vẫn có 2 thầy giáo đi qua nhà em lên điểm trường Pạc Này để dạy học. Suy đi tính lại, nhà trường quyết định phân công 2 thầy, hàng ngày có trách nhiệm đưa, đón Múi đến lớp. Sáng các thầy đưa lên lớp, trưa ăn cơm cùng các thầy, cô, có cơm ăn cơm, có cháo ăn cháo. Ăn xong đến chiều các thầy lại đưa Múi về”.
Điểm trường Pạc Này có 3 lớp với 16 học sinh; trong đó, 2 lớp ghép 4-5; 1-2 và 1 lớp 3. Cô giáo Nguyễn Thị Sáu, giáo viên chủ nhiệm lớp ghép 4-5 chia sẻ: “Ửng Múi là học sinh lớp 5 trong lớp ghép này. Em ham học lắm, chưa nghỉ buổi học nào từ hôm ra điểm trường học đến nay. So với các bạn, Ửng Múi có tiếp thu chậm hơn nhưng em rất chịu khó, nếu được kèm cặp, giúp đỡ chắc em sẽ tiến bộ nhanh”. Tuy có phần rụt rè, nhưng được các thầy, cô động viên, Ửng Múi đã trò chuyện với chúng tôi khá cởi mở. Em hồ hởi bảo: “Ra điểm trường này học em rất thích, vì có đông bạn, chứ học ở điểm trường kia (Tân Đức - PV) một mình buồn lắm, chẳng có ai vui đùa. Em sẽ cố gắng học để không phụ công các thầy, cô giáo đã giúp đỡ cho em được đến trường”.
Với phương án chuyển Tằng Ửng Múi lên điểm trường Pạc Này học, Trường Tiểu học Quảng Đức đã cùng lúc giải quyết được 2 vấn đề. Một mặt vẫn giúp Múi thoả mãn được sự ham học, đồng thời vẫn có thể thực hiện tốt mục tiêu Đề án 25 trong việc dồn điểm trường, dồn lớp, dồn học sinh. Chúng tôi thực sự vui với cái kết có hậu này.
Chia tay thầy, trò điểm trường Pạc Này, chúng tôi được các thầy, cô giáo điểm trường chính Quảng Đức mời ăn “bữa cơm rau dưa” do chính các thầy, cô giáo tự phân công nhau nấu. Cô giáo Nguyễn Thị Hưng chia sẻ thêm: “Các thầy, cô giáo đều ở xa nhà. Buổi trưa tập trung nhau lại, phân công nhau luân phiên nấu cơm. Các cô giáo thì chịu trách nhiệm khâu nấu nướng, rửa bát. Còn các thầy giáo thì nhiệm vụ bưng bê, rửa nồi và đi chợ. Cuộc sống của bà con ở đây vất vả lắm. Các thầy, cô giáo vẫn phải thường xuyên chia sẻ, hỗ trợ các em ở các điểm trường thì mới động viên các em đến lớp đều đặn được…”.
Quả thực, có đến tận nơi mới biết được sự học của trẻ em vùng cao như ở Hải Hà vất vả làm sao…
Cẩm Nang