Quảng Ninh bước vào giai đoạn phát triển mới với quy mô kinh tế ngày càng lớn, tốc độ đô thị hóa nhanh, kết cấu hạ tầng liên vùng đồng bộ và vai trò ngày càng rõ nét trong mạng lưới kinh tế quốc gia. Những chuyển biến đó đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình tổ chức và quản lý chính quyền, bảo đảm bộ máy quản trị theo kịp sự phát triển của không gian đô thị, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế và tạo động lực tăng trưởng trong dài hạn. Thành lập thành phố Quảng Ninh xuất phát từ chính yêu cầu khách quan ấy.
Những năm qua, Quảng Ninh duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, liên tục nằm trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước. Năm 2025, GRDP tăng 11,89%, cao nhất cả nước; quy mô nền kinh tế đạt 368.445 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người vượt 10.400 USD, năng suất lao động xã hội đạt 537 triệu đồng/người, tăng 11,6% so với năm trước. Những kết quả này cho thấy năng lực sản xuất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế tiếp tục được nâng lên.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào các ngành truyền thống, mở rộng vai trò của dịch vụ, du lịch và công nghiệp chế biến, chế tạo. Năm 2025, công nghiệp và xây dựng chiếm 46,18% GRDP; dịch vụ chiếm 37,81%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 4,63%. Cùng với phát triển công nghiệp, Quảng Ninh từng bước khai thác lợi thế về cảnh quan, di sản, kinh tế biển và vị trí cửa ngõ giao thương để mở rộng các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Du lịch tiếp tục là một động lực tăng trưởng quan trọng. Năm 2025, Quảng Ninh đón hơn 21 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt trên 57.000 tỷ đồng. Hoạt động thu hút đầu tư duy trì sức hấp dẫn, với gần 1 tỷ USD vốn FDI trong năm. Tính đến ngày 31/12/2025, toàn địa bàn có 247 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt 17,05 tỷ USD. Các khu kinh tế Vân Đồn, Quảng Yên, Móng Cái tiếp tục thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư, mở rộng dư địa phát triển công nghiệp, dịch vụ logistics, thương mại và kinh tế cửa khẩu.
Nguồn lực ngân sách cũng phản ánh quy mô và sức bật của nền kinh tế. Năm 2025, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 85.909 tỷ đồng, bằng 155% dự toán Trung ương giao, bằng 150% dự toán địa phương giao. Theo Đề án, Quảng Ninh xếp thứ 6 cả nước về thu ngân sách, đóng góp khoảng 3,1% tổng thu ngân sách quốc gia. Đây là nền tảng quan trọng để địa phương tiếp tục đầu tư hạ tầng chiến lược, phát triển các dịch vụ công và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Sự phát triển của Quảng Ninh còn có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi địa phương. Tỷ trọng đóng góp của địa phương vào GDP vùng đồng bằng sông Hồng tăng từ 8,8% năm 2020 lên 9,4% năm 2025; tỷ trọng trong GDP cả nước tăng từ 2,6% lên 2,87%. Riêng năm 2025, Quảng Ninh đóng góp 11,3% vào tăng trưởng của vùng đồng bằng sông Hồng và 4,1% vào tăng trưởng cả nước. Giai đoạn 2021-2025, mức đóng góp tương ứng đạt khoảng 10,3% và 3,7%.
Những con số này cho thấy Quảng Ninh ngày càng gắn chặt với các chuỗi liên kết kinh tế vùng và quốc gia. Vị trí tiếp giáp Trung Quốc, kết nối với Hải Phòng, Hà Nội và các địa phương trong vùng đồng bằng sông Hồng tạo điều kiện để địa phương phát triển các hành lang kinh tế, dịch vụ logistics, công nghiệp, du lịch và thương mại quốc tế. Yêu cầu đặt ra là phải nâng cao năng lực điều phối, kết nối hạ tầng và huy động nguồn lực ở quy mô tương xứng với vai trò ngày càng lớn của Quảng Ninh.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, quá trình đô thị hóa đã làm thay đổi sâu sắc không gian phát triển. Từ năm 2010, Quảng Ninh đẩy mạnh quy hoạch tổng thể, xác lập các vùng kinh tế trọng điểm, hành lang và vành đai kinh tế, đồng thời đầu tư nhiều công trình hạ tầng có tính kết nối liên vùng. Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, tuyến cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái, cầu Bạch Đằng cùng hệ thống giao thông kết nối đã rút ngắn thời gian di chuyển, mở rộng không gian giao thương và tạo điều kiện hình thành các cực tăng trưởng mới.
Không gian đô thị của Quảng Ninh phát triển theo hướng đa trung tâm, gắn với các chức năng kinh tế đặc trưng. Khu vực phía Tây hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch vụ logistics; khu vực trung tâm phát triển hành chính, du lịch và kinh tế biển; khu vực phía Đông nổi lên với kinh tế cửa khẩu và thương mại quốc tế. Mỗi khu vực có lợi thế riêng nhưng ngày càng gắn kết thông qua hệ thống giao thông, hạ tầng kỹ thuật và các chuỗi hoạt động kinh tế.
Thực tiễn đó cho thấy Quảng Ninh không còn phát triển theo cấu trúc đơn tuyến, tập trung vào một đô thị trung tâm, mà đang hình thành mạng lưới đô thị liên kết trên địa bàn rộng, bao gồm không gian biển, đảo, biên giới, di sản và các vùng sinh thái. Quy mô và tính chất phát triển mới đòi hỏi cách tổ chức quản lý có khả năng kết nối các trung tâm, điều phối nguồn lực, kiểm soát quá trình đô thị hóa và bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa các khu vực.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa đặt ra yêu cầu mới đối với năng lực quản trị. Khi các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và dân cư ngày càng tập trung, các vấn đề về quy hoạch, sử dụng đất, kiến trúc, trật tự xây dựng, môi trường, giao thông và an ninh, trật tự có mối quan hệ chặt chẽ hơn. Việc giải quyết từng vấn đề theo cách quản lý hành chính truyền thống khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu điều hành một không gian đô thị liên kết, có quy mô lớn và nhiều chức năng đan xen.
Theo Đề án, mô hình tổ chức chính quyền cấp tỉnh hiện hành bộc lộ những hạn chế trước yêu cầu mở rộng không gian đô thị, phát triển hạ tầng chiến lược và thu hút nguồn lực chất lượng cao. Công tác quản lý nhà nước cần được đổi mới, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, kiến trúc, trật tự xây dựng, môi trường, quản lý dân số cơ học và bảo đảm an ninh, trật tự. Năng lực điều tiết các mối quan hệ liên kết vùng cũng cần được nâng lên để Quảng Ninh phát huy tốt hơn vai trò trung tâm phát triển trong khu vực.
Bởi vậy, thành lập thành phố Quảng Ninh không đơn thuần là thay đổi tên gọi hay địa vị hành chính. Yêu cầu cốt lõi là tổ chức lại phương thức quản trị để phù hợp với thực tiễn phát triển, chuyển trọng tâm từ quản lý hành chính theo địa giới sang quản trị đô thị theo không gian, chức năng và các mối liên kết kinh tế - xã hội. Mô hình mới cần tạo điều kiện để các quyết định về quy hoạch, đầu tư, hạ tầng, môi trường và dịch vụ công được phối hợp đồng bộ, hạn chế tình trạng phân tán nguồn lực hoặc thiếu liên thông giữa các khu vực.
Định hướng phát triển Quảng Ninh trong giai đoạn mới cũng đòi hỏi một mô hình quản trị có khả năng tích hợp nhiều không gian đặc thù. Đó là đô thị gắn với biển, đảo và biên giới; kinh tế công nghiệp gắn với dịch vụ, du lịch và di sản; phát triển hạ tầng gắn với bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Cấu trúc phát triển theo định hướng “3 hành lang phát triển - 4 vùng kinh tế - xã hội - 5 trung tâm động lực phát triển” cần được triển khai đồng bộ với hệ thống đô thị, khu kinh tế, hành lang kinh tế và các khu vực cần bảo tồn hoặc hạn chế phát triển.
Trong cấu trúc đó, chính quyền đô thị phải đủ năng lực điều phối các chương trình phát triển trên phạm vi toàn thành phố, đồng thời tạo điều kiện để chính quyền cấp xã chủ động giải quyết công việc sát với nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Phân cấp, phân quyền cần đi cùng phân bổ nguồn lực, xác định rõ trách nhiệm và tăng cường kiểm tra, giám sát. Khi thẩm quyền được giao rõ ràng, cấp cơ sở có điều kiện xử lý công việc nhanh hơn; cấp thành phố tập trung vào hoạch định chiến lược, quản lý không gian phát triển, đầu tư hạ tầng liên kết và kiểm soát chất lượng đô thị.
Chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số và phát triển đô thị thông minh cũng là những yêu cầu gắn trực tiếp với quá trình đổi mới quản trị. Việc ứng dụng dữ liệu trong quản lý quy hoạch, đất đai, giao thông, môi trường và dân cư có thể nâng cao chất lượng quyết định, tăng tính công khai và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng việc hoàn thiện thể chế, quy trình phối hợp và trách nhiệm của từng cấp chính quyền.
Mục tiêu phát triển đặt ra cho Quảng Ninh là trở thành đô thị hiện đại, thông minh, xanh và bền vững; một cực tăng trưởng quốc gia có sức lan tỏa, khả năng cạnh tranh quốc tế và đóng góp lớn hơn cho vùng đồng bằng sông Hồng, cả nước. Thành phố được định hướng phát triển thành trung tâm kinh tế biển, du lịch, công nghiệp văn hóa, công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, kinh tế di sản và kinh tế đô thị; đồng thời giữ vững quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia và cân bằng giữa tăng trưởng với bảo vệ môi trường.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, đổi mới mô hình chính quyền cần gắn với chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Phát triển đô thị không thể chỉ được đánh giá qua quy mô kinh tế, số lượng công trình hay tốc độ mở rộng không gian xây dựng, mà còn phải thể hiện ở chất lượng hạ tầng, môi trường sống, khả năng tiếp cận dịch vụ công và cơ hội phát triển đồng đều giữa các khu vực. Đây cũng là thước đo hiệu quả của mô hình quản trị mới.
Thực tiễn tăng trưởng, đô thị hóa và liên kết vùng đã tạo nền tảng để Quảng Ninh bước sang một giai đoạn phát triển mới. Thành lập thành phố Quảng Ninh là yêu cầu xuất phát từ sự vận động của chính nền kinh tế và không gian đô thị, đồng thời đặt ra nhiệm vụ đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của chính quyền. Khi mô hình quản trị theo kịp quy mô và tính chất phát triển, Quảng Ninh sẽ có thêm điều kiện phát huy lợi thế, kết nối hiệu quả các nguồn lực và củng cố vai trò động lực tăng trưởng của vùng, đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của đất nước.
Thực hiện: Thu Hương
Trình bày: Vũ Đức