Quảng Ninh - vùng đất hội tụ khí thiêng sông núi, nơi non nước giao hòa, tâm linh và lịch sử hòa quyện - từ lâu đã in dấu trong thi ca Hán Nôm như một miền cảm hứng lớn. Mỗi danh thắng, mỗi vùng đất nơi đây đều để lại những vần thơ bất hủ, chất chứa tình yêu nước, cảm nhận vũ trụ và vẻ đẹp thiên nhiên thấm sâu vào hồn người. Trong sắc xuân tràn ngập đất trời, những thi phẩm cổ gắn với Quảng Ninh càng trở nên lung linh, như những hạt phù sa bồi đắp thêm chiều sâu văn hiến cho miền đất di sản.
Núi Bài Thơ - “Bảo tàng” thi ca giữa lòng Hạ Long
Một trong những minh chứng cụ thể nhất cho mối quan hệ gắn bó giữa văn chương và cảnh sắc trên vùng đất Quảng Ninh là núi Bài Thơ - nơi những bài thơ Hán Nôm của các bậc quân vương, thi nhân được khắc lên vách đá sừng sững giữa lòng Hạ Long, được xem như “bảo tàng ngoài trời” của thơ cổ.
Bài thơ nổi tiếng nhất được lưu trên vách đá là của vua Lê Thánh Tông viết năm Quang Thuận thứ 9 (1468), trong chuyến ngài tuần du phương Đông và duyệt thủy quân trên sông Bạch Đằng. Vua đã viết bài thơ “Ngự chế Thiên Nam động chủ đề” (Bài thơ đề vách núi của Thiên Nam động chủ) với những tuyên ngôn bất hủ:
“Cự tẩm uông dương triều bách xuyên
Loạn sơn kỳ bố bích liên thiên
Tráng tâm sơ cảm Hàm tam cổ
Tín thủ dao đề Tốn nhị quyền
Thần bắc khu cơ sâm hổ lữ
Hải đông phong toại tức lang yên
Thiên Nam vạn cổ sơn hà tại
Chính thị tu văn yển vũ niên”.
Dịch thơ:
Nhận nước trăm năm sóng cuộn đầy
Núi bày cờ thế, biếc liền mây
Xưa theo người khác luôn bền chí
Giờ đã tung hoành một chớp tay
Đế chủ điệp trùng quân hổ mạnh
Hải Đông đã tắt khói lang bay
Trời Nam muôn thuở non sông vững
Yển vũ tu văn dựng nước này.
(bản dịch của Trần Nhuận Minh)
Đánh giá về bài thơ này, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vẻ đẹp của bài thơ không chỉ nằm ở bút pháp tả cảnh mà còn thể hiện cái nhìn chiến lược và tầm vóc đế vương, thấu hiểu vận nước qua cảnh sắc thiên nhiên. Bài thơ cũng được ví như một bản Tuyên ngôn độc lập của quốc gia Đại Việt, đồng thời là ý chí quyết tâm xây dựng một đất nước hoà bình, cường thịnh và bền vững.
Năm 1729, chúa Trịnh Cương cũng có dịp dừng chân tại đây, xúc động trước cảnh sắc đất trời mà lưu lại bài thơ “Nhật Nam Trịnh chủ đề” hoạ lại bài thơ của vua Lê Thánh Tông, nối dài mạch thi ca lịch sử. Nếu vua Lê Thánh Tông nhìn Hạ Long bằng tầm vóc chính trị, thì Trịnh Cương lại nhìn bằng cảm xúc lữ khách, thấy biển trời như trải rộng đến vô cùng. Hạ Long trở thành nơi lòng người dễ rung động, dễ ngước nhìn thiên nhiên mà tự soi lại chính mình.
Sau này, nhiều tao nhân mặc khách thế kỷ XIX-XX tiếp tục khắc thêm các bài thơ Hán - Nôm và Quốc ngữ trên vách núi, tạo nên một tổng thể thơ đá độc đáo giữa lòng di sản thiên nhiên thế giới.
Bên cạnh đó, trong kho tàng thơ cổ viết về Hạ Long, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn từng công bố 5 bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương viết về Vịnh Hạ Long, bao gồm: "Độ Hoa Phong", "Hải ốc trù", "Nhãn phóng thanh", "Thuỷ Vân hương" và "Trạo ca thanh"... Trong bài “Hải ốc trù”, bà viết: Đỉnh tựa nghê vờn mấy khối xanh/ Trời biếc mây sương phủ một vành… (Dịch: Tựa nghê xanh ngắt đứng soi hình/ Sương bạc mây trôi phủ bóng quanh…). Thiên nhiên Hạ Long qua con mắt Hồ Xuân Hương trở nên sống động như có linh hồn.
Vân Đồn - Kỳ quan huyền ảo trong thi ca
Cùng với Hạ Long, vùng biển Vân Đồn, nơi giao thoa giữa mây trời, sóng nước và những dãy núi trập trùng, từ lâu đã trở thành chất liệu thi ca Hán Nôm. Nổi bật nhất là bài “Lộ nhập Vân Đồn” của Nguyễn Trãi. Một bức tranh thủy mặc tinh tế với những câu miêu tả cảnh núi sông vô cùng diễm lệ:
Lộ nhập Vân Đồn san phục san
Thiên khôi địa thiết phó kì quan
Nhất bàn lam bích trùng minh kính
Vạn hộc nha thanh đóa thúy hoàn...”
Dịch thơ:
Đường đến Vân Đồn lắm núi sao
Kỳ quan đất dựng giữa trời cao
Một vùng biếc sẫm gương lồng bóng
Muôn hộc xanh om tóc mượt màu...
(Đào Duy Anh dịch)
Với những câu thơ này, Nguyễn Trãi nhìn Vân Đồn bằng ánh mắt của người am hiểu thiên nhiên, đồng thời thấm đượm tính triết lý. Câu “thiên khôi địa thiết” (trời xây, đất dựng) làm nổi bật sự kỳ vĩ tự nhiên, còn “lam bích” và “nha thanh” tạo nên gam màu xanh trầm, vừa huyền bí vừa thanh sạch. Trong bài thơ này, thiên nhiên hiện ra vừa hùng vĩ, vừa trầm mặc, huyền ảo, và cũng rất đỗi linh thiêng. Qua đó, vùng biển đảo Vân Đồn không chỉ là vùng biên thùy chiến lược, mà còn là miền đất của những giá trị siêu hình, thiêng liêng.
Non thiêng Yên Tử - tiếng thơ của thiền
Với Yên Tử, một vùng non xanh nước biếc là kinh đô Phật giáo Đại Việt, nơi ra đời Thiền phái Trúc Lâm và mở ra một giai đoạn rực rỡ của Phật giáo nhập thế, không thể không nhắc đến các sáng tác thiền học giàu chất thơ của Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Nguyễn Trãi...
Nổi tiếng là bài phú "Cư trần lạc đạo" của vua Trần Nhân Tông, tiêu biểu cho tư tưởng nhập thế, tự lực và tùy duyên với những câu:
“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn hiền”.
(Dịch nghĩa: Ở đời vui với đạo hãy tùy duyên. Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền. Trong nhà có báu thôi tìm kiếm. Đối cảnh mà vô tâm thì chớ có hỏi thiền). Đó là triết lý sống an nhiên, hòa mình vào cuộc đời mà không bị đời níu giữ. Tinh thần “ở đời vui đạo” phản ánh sâu sắc bản chất Phật giáo nhập thế của Trúc Lâm.
Còn trong bài thơ “Yên Tử sơn am cư” của Thiền sư Huyền Quang viết:
“Am bức thanh tiêu lãnh
Môn khai vân thượng thầng”
(Dịch nghĩa: Am thiền cao sát trời xanh, mát mẻ. Cửa mở trên tầng mây) - những câu thơ gợi nên một không gian thiền định thanh tịnh, siêu thoát, ở đó, con người không còn là chủ thể tả cảnh mà hòa làm một với khí mây, với hư vô, với đạo.
Vùng non thiêng Yên Tử còn xuất hiện trong thơ Nguyễn Trãi trong bài thơ “Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự”, trong đó có những câu thể hiện rõ sự hợp nhất giữa thiên nhiên và tâm thức thi nhân:
“Yên sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu,
Quải thạch châu lưu lạc bán không.
Nhân miếu đương niên di tích tại.
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng”.
Dịch thơ:
Trên non Yên Tử chòm cao nhất,
Trời mới canh năm đã sáng tinh.
Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả,
Nói cười người ở giữa mây xanh.
Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa,
Bao dãi tua châu đá rủ mành.
Dấu cũ Nhân tôn còn vẫn đấy,
Trùng đồng thấy giữa áng quang minh.
(bản dịch của nhóm Đào Duy Anh)
Những câu thơ gợi ra khung cảnh cao vợi, tâm hồn khoáng đạt và Yên Tử trở thành nơi để lòng người gột rửa bụi trần.
Bạch Đằng - Dòng sông thiêng mang hào khí nghìn năm
Trong số những địa danh tiêu biểu của Quảng Ninh đi vào thơ ca Hán Nôm, sông Bạch Đằng cũng là đề tài bất tận, được xem như mạch thiêng sử thi trong thơ, biểu tượng cho tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc.
Có thể kể đến “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu, một áng văn tràn đầy lòng yêu nước, tráng chí chất ngất, cùng tinh thần tự hào dân tộc và hàm chứa một triết lý lịch sử sâu sắc:
“Qua cửa Đại Than
Ngược bến Đông Triều
Đến sông Bạch Đằng
Thuyền bơi một chiều
Bát ngát sóng kình muôn dặm
Thướt tha đuôi trĩ một màu
Nước trời một sắc
Phong cảnh ba thu
Bờ lau san sát
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy
Gò đầy xương khô...”.
Trong từng câu phú, sông Bạch Đằng hiện ra vừa hùng vĩ, vừa thấm đượm nỗi trầm tư. Tác giả không chỉ kể lại chiến công, mà còn suy ngẫm về thế sự, về anh hùng và thời gian. Bên cạnh đó, không thể không kể đến bài thơ “Bạch Đằng hải khẩu”, một kiệt tác của Nguyễn Trãi với những câu thơ tràn đầy khí thế hào hùng:
“Sóc phong xuy hải khí lăng lăng
Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng
Ngạc đoạn kình khô sơn khúc khúc
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng
Quan hà bách nhị do thiên thiết
Hào kiệt công danh thử địa tằng
Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ
Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng”.
Dịch thơ:
Biển rung, gió bấc thổi băng băng,
Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.
Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,
Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.
Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,
Hào kiệt công danh đất ấy từng.
Việc cũ quay đầu, ôi đã vắng,
Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.
(bản dịch của Nguyễn Đình Hồ)
Đó là hình ảnh bi tráng - hào khí còn đó, nhưng dấu tích xưa nay chỉ còn lại như tiếng vọng. Sông Bạch Đằng vì thế không chỉ là địa danh, mà là biểu tượng của tinh thần bất khuất dân tộc.
***
Từ Vịnh Hạ Long - núi Bài Thơ đến Vân Đồn - Yên Tử - Bạch Đằng… thơ ca Hán Nôm về Quảng Ninh, vùng đất địa đầu Đông Bắc Tổ quốc, là dòng mạch trong trẻo, bền bỉ, chảy xuyên qua nhiều thế kỷ. Đó là nơi thiên nhiên trở thành tri âm của thi sĩ, là nơi lịch sử và tâm linh hòa quyện thành ngôn ngữ thi ca. Những bài thơ có sự giao thoa rõ nét giữa văn hóa dân gian và cung đình, giữa Phật giáo và tư tưởng nho - đạo, giữa hồn thiêng lịch sử và vẻ đẹp thiên nhiên. Trong mỗi câu thơ về Vịnh Hạ Long, về Bạch Đằng giang, hay Yên Tử... đều mang bóng hình của cha ông, của sông núi thiêng liêng và là một phần của giá trị văn hóa, góp phần đánh thức trong mỗi người lòng yêu quê hương, yêu lịch sử, trân trọng vẻ đẹp của ngôn ngữ cha ông.
Trong mùa xuân năm 2026, khi đất trời đổi sắc, những áng thơ ấy như được thổi bừng sức sống mới, góp phần làm nên bản sắc văn hóa riêng biệt của vùng đất địa linh nhân kiệt này.