THPH phân ban: Sẽ phải bước sang trang mới?

Phương án chính thức phân ban cho THPH vừa triển khai đã phơi bày ngay sự bất cập. Vừa mới phát hiện chủ trương này chỉ là “...Quanh co, quanh co, quanh co”, cây bút gần gũi với độc giả Thư HN giờ đây lại tiên lượng: Phân ban sẽ chỉ kéo dài ba năm để rồi bước sang một trang khác... 

Chẳng cần đến hết năm học, phương án phân ban (lần thứ ba) triển khai mới chưa đầy một tháng, nhưng là lần đầu tiên chính thức thực hiện đại trà, đã có thể hạ hồi phân giải. Không ứng được với câu ngạn ngữ nổi tiếng: “Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, ba ban: Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội và Nhân văn, và ban Cơ bản của mô hình phân ban kết hợp tài liệu tự chọn lại “chọn” cho mình câu thành ngữ dân gian đầy trắc trở: “Khôn sống, mống* chết”.

Ba lần và ba năm?

Khai giang năm học mới.
 Khai giang năm học mới.
Con số thống kê khá đầy đủ trong cả nước cho thấy có tới hơn 73% số học sinh đăng ký học ban Cơ bản (chương trình chuẩn kết hợp tài liệu tự chọn), khoảng 6% học sinh học ban Khoa học xã hội và Nhân văn, còn lại khoảng gần 20% học sinh học ban Khoa học tự nhiên. “Khôn sống” - ở đây là ban Cơ bản. “Mống chết” - ở đây lại tiếp tục là ban KHXH và NV, một lần nữa đi theo vết xe đổ của ban C trong lần thí điểm phân ban trước đây.

Với nguyên tắc cho phép học sinh được tự chọn ban theo nguyện vọng, sở trường và được đổi nguyện vọng, rất nhiều trường THPT nhất là vùng khó khăn, và ngay cả một số trường THPT ở đô thị, nội thành đã “khôn ngoan” chỉ chọn ban Cơ bản để học chương trình chuẩn kết hợp tài liệu tự chọn, thực chất là ba môn học phục vụ cho các khối thi đại học A, B, C, D....Cũng vì nguyên tắc học sinh được phép đổi ban, chọn ban, mà cho tới thời điểm vừa qua Nhà xuất bản Giáo dục phải gấp rút in hơn một triệu bản sách giáo khoa phục vụ cho việc học sinh lựa chọn ban Cơ bản!

Rõ ràng, những con số thực tiễn (với tỷ lệ: hơn 73% học sinh ban Cơ bản, 6% học sinh ban KHXH và NV, gần 20% học sinh ban KHTN) cho thấy dự báo và tiên đoán ban đầu trên giấy một cách chủ quan của ngành giáo dục và đào tạo (với tỷ lệ tương ứng: 60%, 10% và 30%) là hoàn toàn phá sản.

Ngay cả ở những trường học rất ung dung và chủ động phân ban như Trường THPT dân lập Lương Thế Vinh ( Hà Nội) của Hiệu trưởng, GS. Văn Như Cương, thực tiễn phân ban cũng đầy bất ngờ. Nếu trước khai giảng, nhà trường dự kiến có 6 ban: hai ban KHTN, KHXH và NV; và 4 khối lớp thuộc ban Cơ bản bao gồm Cơ bản 1, Cơ bản 2, Cơ bản 3 và Cơ bản 4 tương ứng với bốn khối thi đại học, thì đến thời điểm này, trường thực chất chỉ có mỗi ban Cơ bản với 8 lớp Cơ bản 1 ( toán-lý-hoá), và 17 lớp Cơ bản 4 ( toán- văn- ngoại ngữ). Ở một trường THPT đầu vào nổi tiếng là cao mà còn như vậy thì những trường THPT thường, thậm chí non yếu ở vùng khó khăn, thiếu thốn đủ bề, sẽ ra sao?

Ở tầm vĩ mô trong cả nước, tỷ lệ này rất có thể sẽ còn biến động bởi cho đến hết học kỳ 1, học sinh còn tiếp tục được phép đổi ban. Mục tiêu phân ban từ lúc chưa triển khai đã được báo chí dự báo thất bại. Và thực tiễn đã diễn ra đúng như vậy. Tiếc thay, thực tiễn này một lần nữa đi ngược lại với nguyên tắc bất di bất dịch, đó là “Giáo dục không được phép sai lầm”. Bởi sản phẩm giáo dục là sản phẩm đặc biệt - con người; là tài nguyên, là trí tuệ và sức mạnh của một dân tộc tương lai.

Nhưng quản lý giáo dục vốn là một lĩnh vực rất khó và đòi hỏi lâu dài. Mọi chủ trương giáo dục muốn triển khai hay muốn thay đổi rất cần có một thời gian, thậm chí một lộ trình cần thiết. Mặt khác, là một lĩnh vực mang tính xã hội hoá cao và rất nhạy cảm, giáo dục luôn chịu nhưng áp lực cực lớn của xã hội. Đến nỗi, có những nội dung, vì áp lực xã hội mà ngành điều chỉnh từ đúng thành sai, từ hay thành dở. Để rồi sau đó ngậm đắng nuốt cay tiếp tục chịu búa rìu dư luận. Chính vì vậy, về đạo lý ứng xử, những bối rối hiện nay của chủ trương phân ban ở các cơ sở giáo dục, các địa phương về đội ngũ trường sở, cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, quản lý điều hành kế hoạch dạy học, điều chuyển giáo viên... rất cần sự nỗ lực, trí lực và tâm huyết của đội ngũ cán bộ quản lý của các trường THPT, cán bộ chỉ đạo chuyên môn, cán bộ quản lý, điều hành các sở giáo dục và đào tạo.

Có vậy, việc phân ban mới có thể vượt qua những “sóng gió”, những bất cập ban đầu để dần dần đi vào ổn định, vừa triển khai vừa điều chỉnh và rút kinh nghiệm cho vừa phù hợp thực tiễn, mặt khác, vẫn bảo đảm kế hoạch, đáp ứng nguyện vọng phân ban của học sinh, góp phần bảo đảm chất lượng giáo dục. Đây là việc không dễ, nhưng cũng là phản chiếu sự tất yếu của việc tiếp cận một chủ trương mới

Tuy nhiên, thực tiễn quá bất cập của phương án phân ban, sự thu hút học sinh của ban Cơ bản (dạy học tự chọn) cho phép nhiều chuyên gia giáo dục nhận định, chủ trương phân ban kết hợp với tài liệu tự chọn chỉ nên triển khai ba năm (từ lớp 10 đến lớp 12) hết một cấp học, làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho ngành giáo dục và đào tạo chuyển dần sang trang mới, phân hoá trong dạy học một cách mềm dẻo, linh hoạt hơn - đó là dạy học tự chọn.

Trò nào- thầy nấy?

Tại cuộc họp báo đầu năm học mới đây, ý kiến nhiều cán bộ quản lý, cán bộ khoa học giáo dục đều khẳng định một điều: ban Cơ bản là “hình bóng” của giáo dục trong tương lai gần. Sự khẳng định ấy, vô tình đã dự báo cái chết tất yếu của phương án phân ban, có điều là nhanh hay chậm mà thôi.

Nhưng tại năm học này, cho dù có ưu thế hơn hẳn so với hai ban KHTN, KHXH và NV, ban Cơ bản tỏ ra “thoải mái” bao nhiêu với các trường ngoài công lập, thì lại chặt chẽ bấy nhiêu, thậm chí là một thách thức đầy bất ngờ với các trường công lập, không chỉ ở vấn đề cơ sở vật chất, phòng bộ môn thiết bị mà trước hết lại chính là ở đội ngũ, yếu tố quyết định chất lượng.

Vì sao? Câu trả lời là, vì cơ chế quản lý trường ngoài công lập rất mềm dẻo, cho phép hiệu trưởng trường ngoài công lập sử dụng giáo viên theo hình thức hợp đồng. Hiệu trưởng trường THPT ngoài công lập khi cần thiết có thể ký hợp đồng mời các giáo viên phục vụ cho việc dạy học tự c họn theo các khối thi đại học A, B,C, D.

Với trường công lập, cơ chế linh hoạt này hoàn toàn không có, chủ yếu do đội ngũ giáo viên ăn lương biên chế Nhà nước. Hiện nay ở bất cứ một trường THPT nào cũng tồn tại những bất cập sau: trong lúc định biên giáo viên trên một lớp ( 2,1 giáo viên) không đủ, đội ngũ lại không đồng bộ về cơ cấu, môn thừa môn thiếu, nhưng giáo viên lại không thể dạy kèm, hoặc dạy “chéo” môn.

Với một đội ngũ khập khiễng “cà nhắc” như vậy, việc dạy học khi chưa phân ban đã bộc lộ sự hạn chế ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giáo dục, nói gì đến phân ban kết hợp tài liệu tự chọn, đòi hỏi kế hoạch dạy học và điều chuyển giáo viên luôn linh hoạt. Các trường công lập dĩ nhiên phải “tùng tiệm” sử dụng đội ngũ trong khả năng mình có. Chất lượng giáo dục dù có muốn “vươn vai” cũng sẽ luôn có những sợi dây trói buộc từ chính cơ chế vận hành không tương ứng. Một câu hỏi đặt ra: tại sao trò được học tự chọn, thầy lại không được dạy “tự chọn”, ở góc độ quản lý. Phương án nào, giải pháp đó?
Rõ ràng, thực tiễn phân hoá trong giáo dục với hình thức dạy học tự chọn cũng đang đặt ra những thách thức đòi hỏi tư duy chiến lược của ngành, đặt ra những tình huống buộc ngành giáo dục và đào tạo phải suy nghĩ, hướng tới việc nên chăng xây dựng một cơ chế sử dụng giáo viên hết sức mềm dẻo, linh hoạt.

Đây là bước ngoặt cực kỳ quan trọng, nhưng nếu chuyển được, ngành giáo dục và đào tạo sẽ thực hiện “một mũi tên trúng ba mục đích”: 1) Các trường có một cơ chế quản lý đội ngũ linh hoạt mềm dẻo sử dụng giáo viên phù hợp yêu cầu thực diễn dạy học tự chọn. 2) Cơ chế linh hoạt mềm dẻo tạo điều kiện đồng bộ hỗ trợ cho ngành triển khai tốt cuộc vận động chống tiêu cực trong giáo dục. 3) Cơ chế mềm dẻo, linh hoạt về quản lý đội ngũ sẽ góp phần tích cực sàng lọc và xây dựng một đội ngũ giáo viên có đức, có tài, hạn chế đến mức thấp nhất sự bất công về đãi ngộ và sử dụng lao động hiện nay – người được dùng lại bất tài, người có tài lại không dùng.

Dĩ nhiên với một cơ chế quản lý mềm dẻo như vậy, không chỉ ngành giáo dục và đào tạo quyết định, mà phải có những nghiên cứu, tính toán, những quyết sách lớn của nhiều bộ, ngành phối hợp giải quyết. Chuyển được như vậy cái được chắc chắn nhiều hơn cái mất, cái lợi chắc chắn nhiều hơn cái thiệt.

Trong cơ chế mới đó, nhà trường phổ thông hẳn phải được tăng cường quyền tự chủ gắn với tự chịu trách nhiệm. Hiệu trưởng nhà trường hẳn phải được quyền chọn lựa, thải loại giáo viên. Trình độ quản lý và phẩm cách lãnh đạo của họ cũng thực sự phải có chất lượng. Người cán bộ quản lý giáo dụccũng phải vừa có đức, vừa có tầm, vừa có tâm.Và công tác kiểm tra, thanh tra của cấp trên, tất nhiên, phải được tăng cường đặc biệt và bám sát cơ sở hơn nữa.

Đâu rồi vai trò điều tiết?

Ngành giáo dục và đào tạo luôn khẳng định, phân ban để phân luồng. Nhưng với chủ trương phân ban qua hai đợt thí điểm và nhất là triển khai chính thức hiện nay, mục tiêu đào tạo phân ban của ngành ngày càng ngả rõ sự phân luồng vào.... đại học. Nhiều câu hỏi đặt ra, đây phải chăng là một cách làm để “ yên dân” của ngành giáo dục và đào tạo, sau quá nhiều những bất bình của dư luận trước sự thất bại không tránh khỏi của hai lần thí điểm phân ban trước đây.

Nhưng, trong khi với vai trò “nhà cung cấp” các phương án giáo dục, chạy theo nhu cầu của tuổi trẻ, với cả ba lần đưa ra phương án phân ban, ngành giáo dục và đào tạo ngày càng dường như quên mất vai trò điều tiết thuộc chức năng quản lý Nhà nước của mình, góp phần tạo nguồn nhân lực phát triển kinh tế – xã hội.

Trong tương lai gần, dạy học tự chọn nếu trở thành phương án chính thức, thì vai trò điều tiết, vai trò quản lý Nhà nước của ngành giáo dục và đào tạo sẽ ở đâu? Câu trả lời liệu có phải là ở chỗ: ngành cần có các giải pháp mạnh, chỉ đạo tập trung công cuộc phổ cập bậc trung học ở tất cả các địa phương, đặc biệt trong đó quan tâm hơn nữa đến phổ cập nghề, phổ cập trung học chuyên nghiệp, tạo nguồn nhân lực kỹ thuật lành nghề.

Nhưng muốn vậy, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục, tạo sự liên thông, liên kết giữa các ngành hoc, các lĩnh vực, đầu tư cơ sở vật tư, thiết bị kỹ thuật, ngành giáo dục và đào tạo phải làm sáng tỏ được bài toán giáo dục – kinh tế – xã hội trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, vốn còn quá nhiều ẩn số, trong đó có một mâu thuẫn luôn tồn tại là càng hiện đại hoá, càng công nghệ cao, nguy cơ thừa nhân lực càng lớn. Có vậy, công cuộc phổ cập bậc trung học, một sự hỗ trợ tích cực cho chủ trương và phương án dạy học tự chọn, mới không mắc bệnh hình thức, lãng phí và không hiệu quả./.

(Chú thích: * Mống - từ cổ, có nghĩa là vụng, dại)

Cùng chuyên mục