Thời gian qua, Chương trình mục tiêu Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (NS&VSMTNT) đã bước đầu phát huy tác dụng, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho nhân dân, đặc biệt là người dân khu vực nông thôn. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ đầu năm đến nay, các địa phương đã đưa vào sử dụng 2 hệ thống cấp nước tự chảy, 290 giếng đào, bể chứa nước mưa góp phần đưa số dân khu vực nông thôn được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh lên 479.203 người, tăng 5.713 người so với năm 2010, đạt được mục tiêu mà tỉnh đề ra.
Để Chương trình NS&VSMTNT đạt kết quả, tỉnh đã quyết định kiện toàn Ban chỉ đạo (BCĐ) chương trình do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban. Theo đó, BCĐ đã thường xuyên kiểm tra và giám sát quá trình thực hiện, đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến từng địa phương và các hộ dân về tác dụng của việc sử dụng nước sạch hợp vệ sinh và nâng cao chất lượng môi trường nông thôn. Hàng năm tỉnh đều tổ chức tuyên truyền hưởng ứng “Tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường” nhằm khuyến khích người dân đóng góp, đầu tư xây dựng, cải tạo các công trình cấp nước vệ sinh. Tập trung đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phù hợp với từng địa phương để nâng cao hiệu quả cấp nước sạch, như: Cấp nước tập trung (tự chảy, cấp nước bằng bơm dẫn) đến cấp nước nhỏ lẻ (bể, giếng đào, giếng khoan). Nguồn vốn đầu tư cho chương trình được tỉnh đặc biệt quan tâm, chỉ tính 5 năm gần đây (2006-2011) tổng mức đầu tư cho chương trình đạt trên 378 tỷ đồng, góp phần nâng tổng số người dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt tỷ lệ chung 84%. Tuy nhiên, vẫn còn 5 huyện có tỷ lệ người dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt tỷ lệ dưới 83%, đó là: Yên Hưng, Hoành Bồ, Tiên Yên, Ba Chẽ, Bình Liêu. Theo đánh giá của ngành chuyên môn, tỷ lệ dân cư được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh đã đạt mục tiêu đề ra nhưng lại có sự chênh lệch lớn giữa các địa phương. Trong khi huyện Đông Triều đạt tỷ lệ 92% thì Bình Liêu lại chỉ đạt 70%.
Cùng với mục tiêu về cấp nước sinh hoạt, tỉnh cũng đã hoàn thành cơ bản mục tiêu số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh. Tính đến nay, số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 68%. Từ năm 2006 đến nay, số chuồng trại chăn nuôi đã được cải tạo và xây dựng mới hợp vệ sinh trên 52.000 chuồng; số chuồng được xử lý xây hầm bioga trên 3.000 chiếc, tập trung chủ yếu ở huyện Đông Triều, Yên Hưng. Việc cấp nước và xây nhà vệ sinh cho nhà trẻ, trường học, trạm y tế và các cơ sở công cộng đã đạt được nhiều kết quả. Đến nay, đã có trên 93% số trường học, nhà trẻ, lớp mẫu giáo; 100% trạm xá xã và trụ sở UBND xã có nhà tiêu và nước sinh hoạt hợp vệ sinh; trên 30% tổng số chợ ở khu vực nông thôn được cung cấp nước sinh hoạt và có công trình vệ sinh; một số đồn biên phòng thuộc huyện Vân Đồn, Cô Tô, TP Móng Cái cùng với hơn 700 hộ dân vùng lân cận được cung cấp nước sinh hoạt.
Nhờ áp dụng nhiều giải pháp đồng bộ cũng như tăng cường phối hợp giữa các ngành mà nòng cốt là ngành Y tế nên tình hình vệ sinh môi trường nông thôn trong những năm qua đã có nhiều thay đổi. Cảnh quan và môi trường nông thôn “xanh - sạch - đẹp” đang xuất hiện ở nhiều làng, xã; tập quán và hành vi vệ sinh cá nhân, vệ sinh cộng đồng đã có nhiều chuyển biến. Đặc biệt là tập quán không sử dụng nhà vệ sinh hoặc sử dụng phân chưa qua xử lý để bón ruộng đã và đang được cải thiện ở nhiều vùng, nhất là ở huyện miền Đông của tỉnh từng bước được cải thiện. Một số thôn, xã đã thành lập tổ thu gom rác thải, xây dựng các công trình thoát nước thải và xử lý rác sinh hoạt ở nông thôn như Yên Hưng, Hạ Long, Đông Triều, Uông Bí, Cẩm Phả, Hải Hà, Móng Cái, Tiên Yên góp phần chống ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước, giữ gìn vệ sinh môi trường.
Mặc dù một số chỉ tiêu của Chương trình mục tiêu về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã đạt mục tiêu đề ra, song hiện nay mới có khoảng 28-29% dân số nông thôn được tiếp cận với nguồn nước sạch (tính theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế). Bên cạnh đó, vẫn còn 16% dân số nông thôn chưa được tiếp cận với nước sinh hoạt hợp vệ sinh nhưng phần lớn trong số này lại tập trung ở những khu vực, những địa bàn khó khăn nhất về nguồn nước và kinh tế, đó là chưa kể đến điều kiện địa hình và phong tục tập quán còn nhiều hạn chế. Vấn đề xử lý chất thải chuồng trại chăn nuôi và xử lý chất thải làng nghề đã được quan tâm triển khai nhưng chưa kiểm soát được ô nhiễm làng nghề...
Có thể thấy, mặc dù còn một số hạn chế nhưng người dân đã chủ động hơn trong việc tự đầu tư xây dựng và giữ gìn tốt các công trình cấp nước, chủ động xây dựng các công trình hố xí, chuồng trại của gia đình, tích cực tham gia bảo vệ nguồn nước và giữ vệ sinh chung trong cộng đồng dân cư để nâng cao chất lượng cuộc sống. Đây là điều kiện để Quảng Ninh thực hiện tốt hơn chương trình trong giai đoạn tiếp theo.
Hữu Việt