Tiềm năng từ di sản văn hoá

Di sản văn hóa của Việt Nam nói chung, của Quảng Ninh nói riêng vô cùng đặc sắc, phong phú, như một mỏ quặng quý giá cần được khai thác, tô đẹp, mài giũa... bằng công nghiệp văn hóa. Bởi thế, công nghiệp văn hóa được quan tâm, đầu tư chuyên nghiệp, xứng tầm sẽ đánh thức, giúp di sản văn hóa phát huy giá trị.

Ngày 8/9/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1755/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, cho thấy Đảng và Nhà nước tiếp tục nhìn nhận, đánh giá cao về vai trò của các ngành công nghiệp văn hoá đối với sự phát triển của đất nước. Du lịch văn hoá được xác định là một trong 5 ngành công nghiệp văn hoá trọng tâm (cùng với điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, quảng cáo, phần mềm và trò chơi giải trí).

Thi đấu đẩy gậy tại Ngày hội Văn hoá- thể thao dân tộc Sán Chỉ xã Đại Dực (nay là xã Đông Ngũ) năm 2024.
Thi đấu đẩy gậy tại Ngày hội Văn hoá- thể thao dân tộc Sán Chỉ xã Đại Dực (nay là xã Đông Ngũ) năm 2024.

Theo thống kê của Cục Di sản văn hóa, cả nước hiện có khoảng 4 vạn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, đã được kiểm kê, lập danh mục theo quy định của Luật di sản văn hóa với 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận, 130 di tích quốc gia đặc biệt, 3.621 di tích quốc gia, hơn 10.000 di tích cấp tỉnh; khoảng 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê trên địa bàn cả nước, 498 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 15 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh tại các Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; UNESCO cũng đã ghi danh 9 di sản tư liệu thuộc chương trình Ký ức thế giới.

Quảng Ninh tự hào có kho tàng di sản văn hóa vô giá, với gần 640 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, trong đó có 2 di sản thế giới (Vịnh Hạ Long và quần thể di tích, danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn - Kiếp Bạc), 8 di tích cấp quốc gia đặc biệt, trên 360 di sản văn hóa phi vật thể với 19 di sản được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, cùng nhiều di sản văn hóa, gắn với cộng đồng các tộc người Kinh, Tày, Dao, Sán Chay, Sán Dìu...

Các di tích, danh lam thắng cảnh được quan tâm tu bổ, tôn tạo đã trở thành địa chỉ đỏ trong việc thu hút ngày càng đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế. Như Vịnh Hạ Long từ khi mới được ghi danh là Di sản Thiên nhiên Thế giới (1994) chỉ có vài chục nghìn khách du lịch, đến nay đã thu hút tới hàng triệu khách mỗi năm.

Một yếu tố vô cùng thuận lợi là nhiều di tích nổi tiếng của Quảng Ninh nằm trong khu vực các danh thắng (hai trong một) hoặc cách các địa điểm du lịch không xa, như đền Cửa Ông, non thiêng Yên Tử, đình Trà Cổ, Khu Di tích lưu niệm Hồ Chủ Tịch trên đảo Cô Tô… Bởi thế, du khách tới tham quan các di sản văn hoá cũng có thể kết hợp luôn ngắm cảnh.

Phát triển du lịch tại các di sản thế giới, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh không chỉ tạo điều kiện để các hoạt động dịch vụ du lịch như: Khu vui chơi giải trí, cáp treo, nhà hàng, khách sạn, xe điện, ca nhạc, nhiếp ảnh, hướng dẫn du lịch... phát triển, mà còn góp phần thúc đẩy các ngành giao thông (đường bộ, đường thủy, hàng không) hoạt động mạnh mẽ hơn. Sự gia tăng đáng kể cả về lượt khách thăm và các hoạt động du lịch, dịch vụ tại các điểm di sản tiêu biểu đã hàm chứa trong đó nhiều thực tiễn điển hình của quá trình giảm nghèo, thông qua việc giải quyết công ăn, việc làm cho hàng vạn lao động, nâng cao đời sống của cộng đồng dân cư địa phương tại nơi có di sản. Khu di tích Yên Tử là điển hình cho thực tiễn.

Tiềm năng phát triển công nghiệp văn hoá từ các di sản văn hoá, danh thắng của Quảng Ninh hẳn đã rõ. Hiệu quả quá trình khai thác giá trị các di sản văn hoá cho du lịch đã được chứng minh ở nhiều nơi trên thế giới và cả ở Việt Nam. Để khai thác, phát huy hiệu quả, có lẽ cũng là do tầm nhìn và giải pháp của chúng ta mà thôi.

Cùng chuyên mục