Kết quả thu gom xử lý nước thải hầm lò ngành Than tăng gấp 4 lần so với năm 2010; thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt đạt 95%; hoàn thành việc di dời 612 nhà bè trên Vịnh Hạ Long, di dời 59 cơ sở sản xuất TTCN vào cụm công nghiệp tập trung... là những kết quả nổi bật của TP Hạ Long trong công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2010-2015.
Là địa phương có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, do đó trong quá trình các đơn vị khai thác, chế biến và kinh doanh khoáng sản đã gây ra không ít tác động xấu tới môi trường trên địa bàn thành phố. Đơn cử như xung quanh vịnh Cửa Lục (phường Bãi Cháy) đang tập trung khá nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, nhà máy như: Khu công nghiệp Cái Lân (diện tích 78ha), Nhà máy xi măng Hạ Long (có công suất 2,1 triệu tấn/năm)... Mặc dù tất cả các nhà đầu tư đều đã cam kết thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, tuy nhiên trong quá trình sản xuất vẫn làm phát tán bụi ra ngoài môi trường nên việc gây tác động tiêu cực tới Vịnh Hạ Long là không tránh khỏi. Hay như trước năm 2015, tại khu vực Nam Cầu Trắng, ngoài bộ phận sản xuất, tiêu thụ của Công ty Tuyển than Hòn Gai còn tuyến đường ô tô vận chuyển than từ các mỏ Hà Lầm, Núi Béo, Hà Tu xuống nhà sàng Nam Cầu Trắng và các cảng Mì Con Cua, Quyết Thắng của Công ty Kho vận Hòn Gai nên đã gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường và ngập úng khu dân cư xung quanh Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng.
Để đảm bảo phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường, bên cạnh những nghị quyết chuyên đề của Trung ương và của tỉnh, thành phố đã chủ động xây dựng và tham mưu cho Ban Thường vụ Thành uỷ ban hành các nghị quyết, chỉ thị về công tác quản lý, bảo vệ môi trường trên địa bàn như: Nghị quyết số 10-NQ/TU về công tác quản lý, bảo vệ môi trường TP Hạ Long giai đoạn 2012-2015, định hướng đến năm 2020; Chỉ thị số 13-CT/TU về tăng cường công tác đảm bảo vệ sinh môi trường đô thị trên địa bàn; Nghị quyết số 15-NQ/TU về tăng cường lãnh đạo chỉ đạo công tác quản lý vệ sinh môi trường đô thị trên địa bàn thành phố... Những chỉ thị, nghị quyết trên đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng đối với công tác bảo vệ môi trường của thành phố, đặc biệt là bảo vệ môi trường Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long như: Dừng vận chuyển than trên các tuyến đường quốc lộ, giảm kế hoạch và tiến tới khai thác than lộ thiên, xây dựng các đập chắn chân bãi thải, cải tạo nạo vét nhiều hệ thống tiêu thoát nước; dừng chuyển tải vật liệu và hàng hoá rời trên Vịnh Hạ Long; di dời 40% các cơ sở sản xuất TTCN nằm xen kẽ trong khu dân cư… Đến nay, các vấn đề trên đều được các đơn vị thực hiện nghiêm túc, trong đó đặc biệt phải kể đến việc di dời 612 nhà bè trên Vịnh Hạ Long vào tháng 6-2015. Việc hoàn thành Đề án di dời nhà bè có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, hình ảnh và sự đa dạng sinh học của di sản thiên nhiên thế giới. Đối với Công ty Tuyển than Hòn Gai, từ ngày 1-1-2015, Công ty cũng đã chấm dứt tình trạng vận chuyển than bằng ô tô về nhà máy và đưa vào hoạt động hệ thống rửa toa xe vận chuyển than nguyên khai từ ga Lộ Phong về Nam Cầu Trắng trị giá 9 tỷ đồng. Qua đó cải thiện đáng kể chất lượng môi trường, điều kiện sinh hoạt của nhân dân trong khu vực.
Mặt khác, nhằm khắc phục tình trạng lụt lội và đảm bảo vệ sinh môi trường trong các khu dân cư, thành phố cũng đã sử dụng nguồn kinh phí từ thu phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản để xây dựng, cải tạo, nạo vét nhiều hệ thống thoát nước. Trung bình hàng năm kinh phí dành cho hoạt động này là từ 30-35 tỷ đồng. Đồng thời, các doanh nghiệp trên địa bàn cũng đã quan tâm, đầu tư hơn cho công tác bảo vệ môi trường. Điển hình như ngành Than đã trích 1% từ giá thành chi phí sản xuất để chi cho công tác bảo vệ môi trường và cũng cho phép các đơn vị trong Tập đoàn được trích 0,5% giá thành chi phí sản xuất cho công tác này. Tổng chi phí bảo vệ môi trường thường xuyên tại các đơn vị khoảng 40-50 tỷ đồng/năm...
Có thể thấy trong 5 năm gần đây, TP Hạ Long đã có nhiều chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều chỉ tiêu lên quan đến tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ xử lý nước thải công nghiệp, nước thải mỏ, tỷ lệ phân loại rác thải ngay đầu nguồn... chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Đặc biệt, là vấn đề quy hoạch hệ thống thoát nước, xử lý nước thải còn nhiều bất cập. Điển hình đợt mưa cuối tháng 7 đầu tháng 8-2015 vừa qua, tình trạng ngập úng xảy ra tại hầu hết các phường trên địa bàn, gây ra nhiều thiệt hại nặng nề đối với toàn xã hội. Mong rằng, những bất cập trên sẽ sớm được TP Hạ Long tiếp tục quan tâm, khắc phục để đến năm 2020, Hạ Long sẽ trở thành một trong những địa phương điển hình, dẫn đầu trong tỉnh cũng như trong cả nước thực hiện thành công các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường trong khuôn khổ Chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam, như mục tiêu thành phố đã đặt ra trong Quy hoạch bảo vệ môi trường TP Hạ Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Hoàng Nga