Bài tham gia cuộc thi chính luận Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Bảo vệ và phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng: Nhìn từ thực tiễn lao động ngành Than - Bài 1: Nơi ươm mầm những "hạt giống đỏ"

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, trung thành tuyệt đối với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Thực tế tại Vùng mỏ, đội ngũ Đảng viên là công nhân ngành Than luôn phát huy tinh thần tiên phong, có ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết, đồng tâm và khát khao đổi mới sáng tạo để làm chủ khoa học công nghệ.

Bài 1: Nơi ươm mầm những hạt giống đỏ

Vùng mỏ Quảng Ninh không chỉ là cái nôi của ngành Than - Khoáng sản Việt Nam mà còn là nơi ươm mầm, vun đắp bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nơi chủ trương, đường lối của Đảng được hiện thực hóa từ những hầm lò sâu hay những tầng than cao.

Từ chủ trương “vô sản hóa”

Cách đây hơn 90 năm về trước, phong trào công nhân Vùng mỏ đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử với sự ra đời và phát triển của tổ chức Đảng. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, các nhà cách mạng nhận thấy cần phải gắn bó mật thiết với giai cấp công nhân, lực lượng nòng cốt của phong trào dân tộc. Do đó, các chiến sĩ cách mạng, đảng viên cốt cán đã xuống khu mỏ, thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, “đi thực tế vào công nhân”. Cán bộ, đảng viên đi sâu vào cơ sở, vào nhà máy, hầm mỏ, công trường; bám sát quần chúng, xây dựng phong trào cách mạng sôi nổi, phát triển đội ngũ đảng viên từ chính những công nhân trực tiếp sản xuất.

Tại buổi gặp mặt, chúc Tết công nhân ngành Than ngày 27/1/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm chia sẻ: "Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ máu thịt với giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong lịch sử cách mạng, đã có những giai đoạn cán bộ, đảng viên phải đi sâu vào cơ sở, đi vào nhà máy, hầm mỏ, công trường; phải sống, làm việc, lao động cùng công nhân - đó là những giai đoạn “đi thực tế vào công nhân”, “vô sản hóa”, là những “thời kỳ đỏ - thực tế đỏ” của Đảng".

Di tích nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên tại Khu mỏ ở Mạo Khê.
Di tích nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên tại Khu mỏ ở Mạo Khê.

Cuối những năm 1920 của thế kỷ trước, dưới ách thống trị thực dân Pháp, khu mỏ (cụ thể là những mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả, Mạo Khê, Vàng Danh…) trở thành một trong những trung tâm công nghiệp lớn nhất Đông Dương. Hàng vạn công nhân mà phần lớn xuất thân là nông dân từ đồng bằng sông Hồng bị bần cùng hóa, bị bóc lột tàn bạo, lao động thủ công trong hầm lò tối tăm, ẩm ướt, “ăn cơm dương gian, làm việc âm phủ”. Họ phải sống trong những lán thợ chật hẹp, thiếu thốn. Những mâu thuẫn giai cấp gay gắt đã tạo điều kiện cho phong trào công nhân phát triển.

Năm 1928, Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội phát động phong trào thanh niên trí thức vô sản hóa xuống các hầm mỏ, nhà máy để vô sản hóa. Nghĩa là, họ đã hòa mình vào giai cấp công nhân, sống, lao động, đấu tranh cùng họ, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Đây là bước chuyển chiến lược quan trọng khi đưa trí thức xuống với quần chúng lao động để xây dựng nền tảng giai cấp cho Đảng.

Như vậy, trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Vùng mỏ Quảng Ninh giữ một vị trí đặc biệt. Nơi đây không chỉ là cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam mà còn là nơi thực thi sinh động chủ trương “vô sản hóa” của Đảng. Những cán bộ cách mạng đã biến những hầm lò, nhà máy than thành những “thời kỳ đỏ-thực tế đỏ”, nơi lý tưởng cách mạng được tôi luyện từ thực tiễn lao động và đấu tranh của người thợ mỏ. Từ trong phong trào này, nhận thức của công nhân được nâng cao từ đấu tranh kinh tế chuyển sang đấu tranh chính trị. Đây là bước chuẩn bị then chốt dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930.

Những “hạt giống đỏ” đầu tiên tại Vùng mỏ

Đồng chí Hoàng Quốc Việt (tên thật là Hạ Bá Cang) là một trong những nhà cách mạng tiền bối tiêu biểu của Đảng, xuất thân từ người thợ mỏ và đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng phong trào công nhân tại Vùng mỏ.

Năm 1925, khi đang học năm thứ ba Trường Kỹ nghệ Thực hành tại Hải Phòng, đồng chí Hạ Bá Cang tham gia phong trào bãi khóa và biểu tình phản đối thực dân Pháp kết án tử hình nhà yêu nước Phan Bội Châu nên bị đuổi học, về làm thợ nguội tại mỏ Mạo Khê. Đây không chỉ là nơi kiếm sống mà còn là môi trường để ông thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, hòa mình vào giai cấp công nhân, truyền bá tư tưởng cách mạng. Trong cuốn sách “Những chặng đường nóng bỏng” (NXB Lao động, 1985) đồng chí Hoàng Quốc Việt viết: “Ra mỏ không chỉ trốn thoát sự truy nã của mật thám, cảnh sát, không chỉ để kiếm việc làm mà còn mang theo tinh thần, phương pháp đấu tranh truyền bá vào công nhân mỏ”.

Đồng chí Hoàng Quốc Việt và chiếc máy tiện được đồng chí sử dụngkhi làm việc tại mỏ Mạo Khê.
Đồng chí Hoàng Quốc Việt và chiếc máy tiện được đồng chí sử dụng khi làm việc tại mỏ Mạo Khê.

Cuộc sống lao động cực khổ của công nhân mỏ dưới ách thực dân đã giúp ông sớm nhận thức sâu sắc về áp bức, bất công. Trong cuốn sách “Những ngày ở mỏ” (Ty Văn hoá - Thông tin Quảng Ninh xuất bản năm 1971), ông Đinh Tiến Toán, đồng nghiệp với đồng chí Hạ Bá Cang kể, ông vừa lao động sản xuất, vừa tranh thủ tuyên truyền, giác ngộ anh em thợ mỏ qua những câu chuyện về thời cuộc, tấm gương các nhà yêu nước và Cách mạng Tháng Mười Nga. 

Để che mắt mật thám và tạo sự gắn kết, đồng chí Hạ Bá Cang đã sáng lập hội đá bóng và quỹ tương tế (hội chơi họ) mang tên “Tiên Long thương đoàn”. Đến năm 1927, tổ chức này đã có hơn 100 hội viên. Đây được coi là tổ chức quần chúng cách mạng đầu tiên của đội ngũ công nhân vùng mỏ. Dù quy mô chưa lớn và tổ chức chưa chặt chẽ, nhưng “Tiên Long thương đoàn” đã trở thành tiền đề quan trọng cho sự ra đời sau này của Hội Ái hữu và Công hội Đỏ.

"Lập Công hội Đỏ" - Tranh vẽ của cố họa sĩ Bùi Đình Lan.
"Lập Công hội Đỏ" - Tranh vẽ của cố họa sĩ Bùi Đình Lan.

Năm 1927, trên cơ sở lực lượng từ các tổ chức quần chúng đã xây dựng, đồng chí Hạ Bá Cang lãnh đạo khoảng 100 công nhân mỏ Mạo Khê thực hiện cuộc bãi công kéo dài một tuần. Cuộc đình công diễn ra tự phát, chưa được chuẩn bị kỹ nên thất bại. Tuy nhiên, nó đã để lại bài học kinh nghiệm quý báu cho phong trào công nhân sau này và buộc bọn cai ký, chủ mỏ phải dè chừng, giảm bớt sự hà khắc với công nhân.

Thời gian hoạt động trực tiếp tại Vùng mỏ của đồng chí Hoàng Quốc Việt không dài, nhưng góp phần quan trọng vào việc hình thành phong trào công nhân. Hoạt động của đồng chí Hoàng Quốc Việt tại Vùng mỏ là tấm gương sáng về tinh thần “vô sản hóa”, gần dân, sát dân và kiên trì truyền bá lý tưởng cách mạng. 

Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên tại Khu mỏ: Các đồng chí Đặng Châu Tuệ (ngoài cùng bên trái); Bùi Văn Mạo, Vũ Thị Mai, Bùi Đức Giao, Nguyễn Huy Sán. Ảnh: Tư liệu.
Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên tại Khu mỏ: Các đồng chí Đặng Châu Tuệ (ngoài cùng bên trái); Bùi Văn Mạo, Vũ Thị Mai, Bùi Đức Giao, Nguyễn Huy Sán. Ảnh: Tư liệu.

Một trong những tấm gương tiêu biểu là đồng chí Đặng Châu Tuệ. Năm 1928, ở tuổi 20, từ trường Thành Chung (Nam Định nay là Ninh Bình), chàng thanh niên Đặng Châu Tuệ đã xuống khu mỏ Cẩm Phả làm công nhân nhà máy than luyện. Cùng với Đào Chu, Huỳnh Công Thái, Vũ Thị Mai (17 tuổi), họ là những thanh niên trí thức đầu tiên vô sản hóa tại đây. Họ sống chung lán với thợ mỏ, mặc áo bao tải, đội mũ cói, lao động trong hầm lò, đồng thời bí mật tuyên truyền, giác ngộ công nhân. Cuối năm 1928, Chi bộ Thanh niên Cách mạng đồng chí hội tại Cẩm Phả được thành lập. Báo Than là cơ quan ngôn luận của Chi bộ đã ra đời với khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại!”, in thạch bản, truyền bá “Đường kách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Phong trào cách mạng ở Vùng mỏ nhanh chóng lan rộng. Trong giai đoạn hoạt động tại Vùng mỏ dưới bí danh Phùng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ góp phần quan trọng xây dựng nền móng cho phong trào công nhân và tổ chức Đảng tại khu vực công nghiệp trọng yếu này. Năm 1929, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và nhiều đồng chí khác xuống vô sản hóa tại các mỏ Vàng Danh, Mạo Khê. Với tinh thần “ba cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) như một phu mỏ, sống chung với công nhân trong những túp lều tranh tạm bợ. Đồng chí chọn lọc những công nhân có tinh thần đấu tranh cao để bồi dưỡng, xây dựng cơ sở cách mạng. Nhờ đó, ông thành lập được chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và một số hội viên Công hội đỏ tại mỏ.

Tháng 9/1929, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được phân công về mỏ Mạo Khê, lấy bí danh Phùng Ngọc Tường, đóng vai phu gánh than. Ông ở chung lều với anh em thợ lò, sử dụng chùa Non Đông làm địa điểm bí mật để hội họp và truyền đạt chỉ thị. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí, phong trào công nhân Vùng mỏ bùng nổ mạnh mẽ gây tiếng vang lớn, khích lệ tinh thần đấu tranh của hàng nghìn công nhân.

Tại Hòn Gai, đồng chí Vũ Văn Hiếu, công nhân mỏ Hà Tu được các đồng chí cán bộ cách mạng được cử vào “vô sản hóa” tại Khu mỏ như Nguyễn Văn Xứng, Nguyễn Khắc Khang kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam) tại chi bộ Hòn Gai. Với bí danh Sơn, đồng chí Vũ Văn Hiếu được giao xây dựng cơ sở tại Hà Tu - Núi Béo.

Từ Chi bộ đầu tiên đến Đặc khu ủy

Ngày 23/2/1930, chỉ 20 ngày sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930), Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên tại Vùng mỏ được thành lập tại Mạo Khê, với 5 đảng viên: Đặng Châu Tuệ (Bí thư), Vũ Thị Mai, Nguyễn Huy Sán, Bùi Văn Mạo, Bùi Đức Giao. Tiếp đó là các chi bộ Hòn Gai, Cẩm Phả, Uông Bí - Vàng Danh.

Sau đó, đồng chí tiếp tục hoạt động với vai trò phái viên của Xứ ủy Bắc Kỳ, góp phần thành lập thêm nhiều chi bộ tại Uông Bí, Vàng Danh, Cẩm Phả, Cửa Ông, Hòn Gai... Đến cuối tháng 4/1930, tổ chức Đảng đã len lỏi vào các vị trí then chốt của các mỏ than. Đồng chí còn đề xuất và tham gia thành lập Đặc khu ủy mỏ, củng cố sự lãnh đạo thống nhất cho phong trào. Đặc khu ủy Khu mỏ Đông Triều - Hòn Gai - Cẩm Phả (tương đương Tỉnh ủy/Thành ủy sau này) được thành lập, lãnh đạo toàn diện phong trào cách mạng tại các khu mỏ. Đảng bộ Đặc khu bầu đồng chí Vũ Văn Hiếu làm Bí thư Đặc khu ủy đầu tiên. Trụ sở đặt tại lán Bản Xứ (Hòn Gai), một lán thợ lợp tranh vách liếp giản dị, thể hiện sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và công nhân.

Phối cảnh khu vực tượng đài đồng chí Vũ Văn Hiếu đang được cải tạo, chỉnh trang.
Phối cảnh khu vực tượng đài đồng chí Vũ Văn Hiếu đang được cải tạo, chỉnh trang.

Những năm 1930-1939, phong trào đấu tranh liên tục nổ ra, đỉnh cao là Tổng đình công ngày 12/11/1936 của hơn 30.000 thợ mỏ với khẩu hiệu “Kỷ luật - Đồng tâm - Chúng ta nhất định thắng”. Đây là một trong những cuộc đình công lớn nhất Đông Dương thời kỳ đó, buộc thực dân Pháp phải nhượng bộ một phần yêu sách, đồng thời khẳng định sức mạnh tổ chức và tinh thần đoàn kết của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Phong trào “vô sản hóa” đã biến Vùng mỏ thành “thời kỳ thực tế đỏ” của Đảng. Ở đó, những cán bộ, đảng viên không chỉ nói suông mà sống, lao động, hy sinh cùng công nhân. Nơi đây lý luận cách mạng được kiểm chứng qua thực tiễn đấu tranh gian khổ. Cũng tại nơi đây, bản chất giai cấp công nhân của Đảng được hun đúc vững chắc. 

Từ những “hạt giống đỏ” ban đầu, Đảng bộ Vùng mỏ đã trưởng thành, lãnh đạo nhân dân giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945. PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hà, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đánh giá: "Quảng Ninh là một trong những cái nôi hình thành giai cấp công nhân Việt Nam. Đội ngũ công nhân mỏ, dưới sự lãnh đạo của lớp đảng viên ưu tú đã được Đảng đào tạo rèn luyện đưa về vô sản hoá đã đứng lên tổng bãi công năm 1936, trong cao trào Cách mạng 1936-1939 và tiến tới Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền sau này. Cuộc bãi công năm 1936 nổi cuộc đời công rất lớn và rất là điển hình thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp công nhân".

Vùng mỏ không chỉ là nơi khai thác than mà còn là nơi ươm mầm và nuôi dưỡng những hạt giống đỏ của Đảng. Hôm nay, những “thời kỳ đỏ” ấy vẫn tiếp tục soi sáng hành trình xây dựng ngành Than hiện đại, góp phần vào sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước.

(Còn nữa)

Cùng chuyên mục