Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên toàn tỉnh

Đo đạc, lập bản đồ địa chính là bước rất quan trọng phản ánh hiện trạng sử dụng đất tại các địa phương. Đây là sản phẩm ban đầu làm cơ sở cho khâu kê khai đăng ký, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Nhận thức vai trò quan trọng đó, công tác đo đạc, bản đồ trên địa bàn tỉnh được đẩy mạnh, qua đó góp phần phục vụ đắc lực trong công tác quản lý nhà nước về đất đai ở các cấp.

Cán bộ chuyên môn của Sở TN&MT thực hiện đo đạc bản đồ ngoài thực địa tại xã Bằng Cả (huyện Hoành Bồ) phục vụ công tác cấp GCNQSDĐ.
Cán bộ chuyên môn của Sở TN&MT thực hiện đo đạc bản đồ ngoài thực địa tại xã Bằng Cả (huyện Hoành Bồ) phục vụ công tác cấp GCNQSDĐ.

Những năm gần đây việc quản lý và sử dụng đất đai đã từng bước đi vào nền nếp, công nghệ thông tin đã được ứng dụng vào mọi khâu công việc, từ đo vẽ xây dựng bản đồ đến thành lập bộ hồ sơ địa chính trên địa bàn cấp xã. Công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính có vai trò rất quan trọng để phục vụ việc quản lý nhà nước về đất đai, là cơ sở pháp lý để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận đất đai, phát triển kinh tế của tỉnh. Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện đo đạc đất đai, Sở TN&MT đã phân công lãnh đạo các phòng chuyên môn phụ trách từng địa phương, cử cán bộ đến từng xã, phường hướng dẫn triển khai công tác đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính. Đồng thời phối hợp với UBND các địa phương đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền để người dân nhận biết được tầm quan trọng của đo đạc bản đồ, tham gia thực hiện công tác đăng ký thống kê, xác định nguồn gốc đất đai để thực hiện việc cấp GCNQSDĐ. Sở lựa chọn các đơn vị thi công đảm bảo có đủ năng lực, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật, máy đo, thiết bị tiên tiến trong hoạt động đo đạc và bản đồ. Trong quá trình thực hiện, các đơn vị chức năng thường xuyên kiểm tra, giám sát các đơn vị thi công, từ đó đôn đốc, nhắc nhở kịp thời và báo cáo kết quả cho Sở TN&MT và chính quyền địa phương. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, hiện nay nhiều công việc đã được thay thế bằng máy móc, thiết bị hiện đại giúp việc đo đạc, chỉnh lý số liệu thuận lợi, nhanh chóng đem lại kết quả đo đạc ngoài thực địa đúng hơn. Khi có số liệu đo đạc ngoài thực địa, cán bộ đo đạc sử dụng các phần mềm ứng dụng để xây dựng bản đồ theo hệ toạ độ chuẩn. Từ đó, các bản đồ có độ chính xác cao hơn, phản ánh sát hơn thực tế diễn biến về đất đai.

Đồng chí Nguyễn Thế Tẽo, Trưởng Phòng Đo đạc, bản đồ và Viễn thám (Sở TN&MT) cho biết: Trước đây, việc đo đạc, xây dựng bản đồ thường là công việc vất vả và tốn nhiều thời gian. Các cán bộ đo đạc phải đo, chỉnh từng ranh giới, từng cột mốc. Điều này vừa tốn nhiều thời gian và công sức của cán bộ đo đạc, vừa không bảo đảm độ chính xác của các thông tin trên bản đồ, do sai số đo đạc lớn. Hiện nay với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, trong đó phải kể đến GPS (hệ thống định vị toàn cầu) và các máy móc phục vụ đo đạc hiện đại đã giúp tiến độ và chất lượng đo đạc được nâng lên rõ rệt; sai số đo đạc đã giảm nhiều so với trước đây. Các loại bản đồ dạng giấy truyền thống đã được số hoá, khiến việc tra cứu, chỉnh lý thuận lợi, nhanh chóng. Nguồn dữ liệu cũng được lưu trữ ở cả dạng giấy và dạng số đã góp phần làm cho kho dữ liệu quản lý đất đai nhẹ và bớt cồng kềnh về khối lượng, nhưng lại đa dạng và đầy đủ hơn, an toàn hơn về thông tin. Từ chỗ trên bản đồ chỉ có thể thể hiện được một số thông tin chính, thì giờ đây với công nghệ số, người sử dụng đã có thể truy cập và tra cứu thêm nhiều thông tin khác liên quan như: Nguồn gốc, chủ sử dụng, giá trị...

Trong công tác kê khai đăng ký cấp GCNQSDĐ, hầu hết thông tin về thửa đất được lưu trữ bằng cả 2 dạng số và giấy để phục vụ cho việc tra cứu và cập nhật thông tin, điều chỉnh biến động. Công nghệ thông tin được ứng dụng từ việc lưu trữ, in ấn sổ sách đến việc in sao, hoàn thiện GCNQSDĐ. Điều này đã góp phần đẩy nhanh tiến độ, cũng như bảo đảm chất lượng công việc. Đến nay trên địa bàn tỉnh đã tiến hành đo đạc, lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/500, 1/1.000 đến 1/10.000 cho hầu hết các địa phương. 176/186 xã, phường, thị trấn đã có bản đồ địa chính (7 xã của huyện Ba Chẽ; 2 xã, 1 thị trấn của huyện Cô Tô dự kiến hết năm 2016 hoàn thành công tác ngoại nghiệp). Sở TN&MT phối hợp với TP Uông Bí và TP Cẩm Phả thí điểm xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) đất đai cho các phường, xã của 2 thành phố. Hiện hệ thống CSDL đất đai của Uông Bí, Cẩm Phả đang được vận hành trên hạ tầng Trung tâm Tích hợp dữ liệu tỉnh và đường truyền mạng WAN toàn tỉnh. Cán bộ Văn phòng đăng ký đất đai TP Cẩm Phả, TP Uông Bí được chuyển giao công nghệ, đào tạo, tập huấn, thao tác thành thục, xử lý hồ sơ trên CSDL. Dự án được hình thành sẽ duy trì cập nhật thông tin về đất đai, biến động đất đai và các nghiệp vụ liên quan. Điều này sẽ tiết kiệm kinh phí không nhỏ để thực hiện các chương trình thống kê định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của các đơn vị chức năng và đảm nhiệm được các công việc đó một cách nhanh chóng, chính xác.

Sở TN&MT đang phối hợp với các địa phương lập dự án để làm căn cứ triển khai xây dựng CSDL cho các địa phương với mục tiêu đến năm 2020 hoàn thành xây dựng CSDL đất đai trên toàn tỉnh.

Hiểu Trân

Cùng chuyên mục