Xử lý rác thải sinh hoạt: Cần nhân rộng cách làm hay

Rác thải hiện đang là nỗi lo chung của các vùng, các quốc gia. Tại Quảng Ninh, việc phát triển mạnh mẽ các khu đô thị, các ngành nghề sản xuất trong thời gian qua đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhưng cũng làm phát sinh lượng rác thải lớn. Công tác xử lý rác thải mặc dù đã được tỉnh quan tâm nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, cần sự vào cuộc tích cực của cả cộng đồng.

Sức ép từ các bãi chôn lấp rác

Quảng Ninh là địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh, đạt 63,3% vào năm 2015 (so với trung bình toàn quốc là 33%). Điều này dẫn đến sự biến động lớn về dân số tại các đô thị, khối lượng phát sinh rác thải sinh hoạt của đô thị tăng mạnh. Theo tính toán, dự báo khối lượng rác thải sinh hoạt đô thị, dịch vụ - thương mại, nông thôn phát sinh tại Quảng Ninh đến năm 2050 khoảng 990.667 tấn. Như vậy, nếu giải quyết không tốt lượng rác thải này sẽ gây sức ép rất lớn về môi trường.

Rác thải chậm được thu gom trên địa bàn huyện Hải Hà ( Ảnh: Hữu Việt)
Rác thải chậm được xử lý trên địa bàn huyện Hải Hà. (Ảnh: Hữu Việt)

Với lượng rác thải sinh hoạt phát sinh hằng năm tăng mạnh nhưng hiện nay trên địa bàn tỉnh chỉ có 5 bãi chôn lấp hợp vệ sinh được thiết kế theo tiêu chuẩn, bao gồm: Bãi chôn lấp rác thải tại Hà Khẩu, bãi chôn lấp rác thải Đèo Sen (đều ở TP Hạ Long), bãi rác Quang Hanh (TP Cẩm Phả), nhà máy xử lý và bãi chôn lấp Quảng Nghĩa (TP Móng Cái), khu xử lý và chôn lấp rác thải Khe Giang (TP Uông Bí).

Trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số bãi chôn lấp rác được hình thành theo kiểu tự phát, chưa được quy hoạch, không đạt các tiêu chuẩn thiết kế kỹ thuật do Bộ Xây dựng ban hành. Các bãi rác không có hệ thống phân loại, tái chế; không có hệ thống lót đáy, hệ thống xử lý nước rác; hệ thống thoát khí cũng không có lớp phủ. Một số bãi rác dùng vôi bột trộn đất để phủ nhưng không đạt yêu cầu chất lượng. Mặt khác, khoảng cách các bãi chôn lấp này không đảm bảo cách ly với khu dân cư. Vì vậy, gây ô nhiễm môi trường nước, không khí cho các khu dân cư sinh sống xung quanh.

Trên địa bàn tỉnh cũng có một số lò đốt rác công suất nhỏ đã được đầu tư đối với vùng nông thôn, vùng sâu của tỉnh, như lò đốt Nfi-05 công suất 120-450kg/h tại thôn Khe Hố, huyện Ba Chẽ, là nơi riêng biệt, cách xa khu dân cư. Đảo Thanh Lân (huyện Cô Tô) cũng được đầu tư 1 lò đốt nhưng phải sử dụng lưới điện 3 pha nên lò đốt không sử dụng được và đã xuống cấp nghiêm trọng. Một số lò đốt thủ công quy mô nhỏ cũng đang hoạt động tại khu vực nông thôn, như: Thôn 5, thôn 6, xã Quảng Long, huyện Hải Hà. Những lò đốt rác này được thiết kế với quy mô nhỏ, mỗi lò khoảng 1m2, đủ tiêu chuẩn hủy rác trong ngày cho 10-15 hộ dân với mức phí xây dựng chỉ từ 2-3 triệu đồng/lò.

Những lò đốt này tuy góp phần giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường khi rác thải không được xử lý và đổ ra kênh mương nhưng đây chỉ là giải pháp trước mắt khi các khu vực nông thôn chưa có hệ thống thu gom và vận chuyển đến cơ sở xử lý. Các lò đốt này không đảm bảo về chất lượng khí thải sau đốt. Tại các nơi không có các dịch vụ thu gom, xử lý chất thải đã xảy ra tình trạng đốt rác tại gia đình hoặc đem đổ ra kênh, mương... gây ô nhiễm môi trường.

Vấn đề xử lý rác thải và sức ép từ các bãi chôn lấp rác không đảm bảo vệ sinh đang là vấn đề bức xúc tại một số địa phương. Đơn cử như huyện Hải Hà, hiện 11 xã, thị trấn trong huyện đã thực hiện hợp đồng thu gom, vận chuyển rác thải với các đơn vị môi trường, một số xã đã xây dựng các lò đốt rác mini và thành lập các tổ thu gom rác thải. Tuy nhiên, do huyện chưa có bãi xử lý rác quy mô, đáp ứng được các tiêu chí về môi trường nên việc xử lý rác thải trên địa bàn huyện gặp rất nhiều khó khăn. Tình trạng người dân, các cơ sở sản xuất, kinh doanh xả rác bừa bãi vẫn diễn ra khá phổ biến; nhiều khu vực, rác thải chất thành những đống lớn, chưa được xử lý gây ô nhiễm môi trường.

Đến cách làm hay

Cô Tô là một quần đảo gồm khoảng 50 đảo nằm ở phía đông của tỉnh với diện tích 47,5 km². Những năm gần đây, lượng khách du lịch đến Cô Tô đã tăng đột biến với khoảng 300.000 lượt khách/năm. Bên cạnh những đóng góp mang lại cho địa phương thì vấn đề này cũng đang đặt ra cho Cô Tô bài toán cân đối giữa lợi ích kinh tế và môi trường.

e
Người dân Cô Tô tham gia chiến dịch làm sạch biển quê hương. Ảnh: Nguyễn Linh (CTV)

Với đặc thù là một huyện đảo, nếu vấn đề xử lý rác thải không tốt sẽ tác động không nhỏ đến môi trường biển, môi trường sống của nhân dân trên đảo, gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí… Hiện nay, trên địa bàn huyện Cô Tô nhìn chung công tác thu gom chất thải đã và đang diễn ra theo cách làm truyền thống: Toàn bộ rác thải được thu gom rồi đưa về nơi chôn lấp hoặc lò đốt. Việc thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn huyện vẫn còn những tồn tại, hạn chế như rác thải chưa được phân loại, chủ yếu là thu gom rồi đưa về nơi chôn lấp.

Để giải quyết những vấn đề nêu trên, song song với việc quy hoạch các khu xử lý chất thải trên địa bàn, huyện Cô Tô đã nhận thấy vai trò của người dân trong bảo vệ môi trường là rất quan trọng. Thực hiện nhiệm vụ phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trong phát triển kinh tế - xã hội như hiện nay là một nhiệm vụ rất khó khăn nhưng là một định hướng đúng, lâu dài, nhằm nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ môi trường, từ đầu năm 2018, huyện Cô Tô đã triển khai thực hiện Đề án phân loại rác thải tại nguồn. Bước đầu, các hộ dân được phát miễn phí túi phân loại rác thải. Túi màu đen là đựng rác thải vô cơ khó phân hủy như chai, lọ, đồ kim loại…, túi màu xanh là để đựng rác thải hữu cơ, dễ phân hủy. Hiện nay, do làm tốt công tác tuyên truyền nên việc phân loại rác thải đầu nguồn đã bước đầu nhận được sự ủng hộ, tham gia của người dân. Cùng với việc triển khai Đề án phân loại chất thải tại nguồn thì Đề án hạn chế sử dụng túi nilon trên địa bàn Cô Tô cũng đang được huyện triển khai rất tích cực.

Điều này đã góp phần quan trọng làm giảm chi phí trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác; giảm diện tích đất chôn lấp; giảm thiểu môi trường và tiết kiệm cho ngân sách huyện.

Thanh Phong

Cùng chuyên mục