Cùng với quá trình khai thác than ngày càng xuống sâu, lượng nước thải mỏ phát sinh trong sản xuất có xu hướng tăng, nếu không được thu gom, xử lý ổn định, nguồn nước này có thể tạo áp lực xấu đối với môi trường. Từ yêu cầu đó, việc nâng cao năng lực xử lý và tăng khả năng tái sử dụng nước thải mỏ đang được ngành Than xác định là nhiệm vụ quan trọng, góp phần tiết kiệm tài nguyên nước, giảm áp lực xả thải và phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của Quảng Ninh.
Trạm xử lý nước thải -97,5 Mông Dương có công suất 1.200m³/giờ. Đây là một trong những trạm xử lý nước thải mỏ do Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV quản lý, vận hành, phục vụ xử lý nước thải phát sinh từ hoạt động khai thác của Công ty CP Than Mông Dương. Tại đây, nước thải được xử lý theo công nghệ lắng lamela, lọc mangan. Đồng thời nước đầu vào được bổ sung hóa chất để trung hòa, keo tụ tạp chất, sau đó qua hệ thống lắng, lọc nhằm loại bỏ bùn đất, chất rắn lơ lửng và các thành phần đặc trưng trong nước thải mỏ. Chất lượng nước đầu ra được kiểm tra, giám sát thường xuyên; chỉ khi đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp, nước sau xử lý mới được xả ra môi trường, hoặc tái sử dụng cho các hoạt động phù hợp.
Ông Lê Đăng Long, công nhân vận hành Trạm xử lý nước thải -97,5 Mông Dương (Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV) cho biết: “Công việc tại trạm xử lý đòi hỏi công nhân vận hành phải theo dõi thường xuyên các thông số kỹ thuật. Từ lưu lượng nước đầu vào, tình trạng thiết bị, liều lượng hóa chất, đến chất lượng nước đầu ra phải được kiểm tra theo quy trình. Đặc biệt vào mùa mưa, lượng nước thoát từ mỏ tăng, chúng tôi phải chủ động hơn trong vận hành để hệ thống hoạt động ổn định”.
Xử lý nước thải mỏ là một phần quan trọng trong quản trị môi trường của ngành Than. Hiện Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV đang quản lý, vận hành 39 trạm xử lý nước thải tại các đơn vị khai thác than trên địa bàn Quảng Ninh, với tổng lượng nước thải mỏ được xử lý khoảng 135-140 triệu m³ mỗi năm. Đây là khối lượng nước lớn, đòi hỏi các trạm xử lý phải được đầu tư đồng bộ, vận hành ổn định và kiểm soát thường xuyên.
Những năm qua, nguồn nước thải mỏ sau xử lý đang từng bước được tái sử dụng. Tại nhiều đơn vị khai thác than, nước được dùng để phun tưới dập bụi, rửa đường, tưới cây, cải tạo cảnh quan. Một phần nguồn nước tiếp tục được xử lý phù hợp để phục vụ tắm giặt cho công nhân. Qua đó, giảm khai thác nước tự nhiên, tiết kiệm chi phí và cải thiện điều kiện môi trường trong khu vực sản xuất. Tuy nhiên, tỷ lệ tái sử dụng còn ở mức thấp.
Thực tế cho thấy, tái sử dụng nước thải mỏ sau xử lý là hướng đi phù hợp trong bối cảnh nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất, sinh hoạt và dịch vụ ngày càng tăng. Nước thải mỏ nếu chỉ xử lý đạt chuẩn rồi xả ra môi trường mới dừng ở yêu cầu kiểm soát ô nhiễm. Khi được tái sử dụng phù hợp, nguồn nước này có thể trở thành một phần của vòng tuần hoàn tài nguyên trong sản xuất.
Để nâng tỷ lệ tái sử dụng nước sau xử lý, vẫn còn nhiều việc cần tiếp tục thực hiện. Trong đó, một số điểm xả nằm sâu trong khu vực mỏ, xa nơi có nhu cầu sử dụng nước. Việc đưa nước sau xử lý phục vụ các mục đích cao hơn cũng cần thêm hệ thống xử lý bổ sung, hạ tầng dẫn nước, bể chứa và cơ chế phối hợp giữa các đơn vị. Vì vậy, cùng với đầu tư công nghệ, cần tính toán đồng bộ từ quy hoạch sản xuất, vị trí trạm xử lý, nhu cầu dùng nước, đến khả năng kết nối, tái sử dụng.
Theo ông Hoàng Xuân Tùng, Trưởng Phòng Cơ điện, Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV, trong thời gian tới, điều kiện khai thác than hầm lò và lộ thiên dự kiến khó khăn hơn, các mỏ tiếp tục mở rộng diện khai thác và xuống sâu, nên lượng nước thải mỏ phát sinh sẽ tăng. Căn cứ nhu cầu thực tế, công ty sẽ tiếp tục đầu tư các trạm xử lý mới, đồng thời nghiên cứu nâng cấp công nghệ để bảo đảm xử lý 100% nước thải phát sinh.
Từ yêu cầu xử lý đạt chuẩn, đến mục tiêu tái sử dụng, nước thải mỏ đang được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên có thể sử dụng trở lại sau xử lý. Để hướng đi này phát huy hiệu quả, cần tiếp tục đầu tư công nghệ, hoàn thiện hạ tầng kết nối và xác định rõ nhu cầu sử dụng nước tại từng đơn vị. Đây cũng là cơ sở để ngành Than quản trị tốt hơn các nguồn thải phát sinh, nâng cao hiệu quả sử dụng nước và đáp ứng yêu cầu sản xuất bền vững trong những năm tới.