Bên cạnh kết quả đạt được trong thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững, ổn định dân cư vùng đồng bào DTTS nghèo; theo đánh giá của Ban Dân tộc tỉnh, vì nhiều nguyên nhân, việc thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nước sinh hoạt thời gian qua còn những hạn chế, tiến độ còn chậm, chưa phù hợp... Đến nay vẫn còn nhiều hộ đồng bào DTTS nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh thiếu đất ở, đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt cần tiếp tục được hỗ trợ.
Những điều mắt thấy tai nghe
Bình Liêu có diện tích tự nhiên 47.138ha; trong đó đất rừng, đất lâm nghiệp 42.510ha, đất nông nghiệp hơn 7.000ha (hơn 4.000ha là đồi có thể chăn thả gia súc; đất cấy lúa, trồng hoa màu 1.644ha, chủ yếu là ruộng bậc thang và thung lũng nằm ở chân núi, bãi bồi ven sông)... Mặc dù đất rộng, người thưa, hệ thống suối, khe với nguồn nước dồi dào, nhưng người dân địa phương vẫn thiếu đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt.
Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Hoàng Thị Nghị, Trưởng Phòng Dân tộc, UBND huyện, cho biết: Qua khảo sát, hiện huyện có 972 hộ thiếu đất sản xuất có nhu cầu chuyển đổi nghề; 92 hộ thiếu đất sản xuất có nhu cầu hỗ trợ đất sản xuất; 30 hộ thiếu đất sản xuất có nhu cầu khoanh nuôi bảo vệ rừng; 871 hộ có nhu cầu hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán; 181 hộ thuộc các nhóm hộ có nhu cầu hỗ trợ xây dựng 10 công trình nước sinh hoạt tập trung. Tổng kinh phí thực hiện khoảng trên 14 tỷ đồng.
| Từ năm 2005-2013, tỉnh đã thực hiện hỗ trợ 2,02ha đất ở cho 101 hộ gia đình; 149,06ha đất sản xuất cho 763 hộ; xây dựng 109 công trình nước sạch tập trung, 532 công trình nước sạch phân tán. Tổng vốn thực hiện gần 37,6 tỉ đồng; trong đó ngân sách T.Ư trên 22,3 tỉ đồng; tỉnh trên 1,8 tỉ đồng; huyện 59 triệu đồng; huy động trên 13,3 tỉ đồng. Hiện toàn tỉnh còn 472 hộ thiếu đất ở; 2.342 hộ thiếu đất sản xuất; 2.350 hộ thiếu nước sinh hoạt; 44 công trình nước sinh hoạt tập trung chưa được đầu tư. (Nguồn: Ban Dân tộc tỉnh) |
Tìm hiểu thực tế tại xã Lục Hồn, đồng chí Đinh Tiến Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết: “Nhu cầu về đất ở, đất sản xuất của người dân trên địa bàn là chính đáng, cần thiết. Tuy nhiên, với điều kiện tự nhiên của xã thì việc mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa là không thể. Vì vậy chỉ có hướng chuyển giao đất lâm nghiệp cho người dân. Một khó khăn nữa là nguồn nước sinh hoạt của người dân phụ thuộc vào các khe, suối trên núi; vào mùa khô, nhiều thôn trên cao như Khe O, Pắc Phe, Bản Chuồng... rơi vào cảnh thiếu nước trầm trọng cho sinh hoạt và sản xuất”.
Gần 11 giờ trưa, đến thôn Khau Pưởng của xã, chúng tôi gặp anh Chu Xuân Việt đang lấy nước từ con mương gần nhà. Anh Việt cho biết, vợ chồng anh đã thuê người đào giếng sâu cả chục mét, nhưng nước vẫn không đủ dùng. Cũng may, gần nhà anh có mương nước chảy từ khe trên núi về, có thể dùng để tắm, giặt, nấu ăn. Nhưng nhiều hộ trong thôn phải vào tận khe nước nằm sâu trong núi, cách gần 2km, bắc ống dẫn nước về. Bên cạnh tốn kém đến tiền triệu, thì vào mùa khô cũng không đủ nước dùng. Diện tích đất ở của gia đình anh chưa đầy 50m2; đất sản xuất là 1 sào ruộng cấy lúa, chỉ đủ ăn trong vài tháng. Gia đình muốn cấy thêm cây lúa, trồng cây ngô, cây sắn, nuôi con lợn cũng đành chịu vì không có đất. Quỹ đất nông nghiệp của xã thì không còn. Anh phải đi làm thuê ở nhiều xã trong huyện để kiếm sống…
Theo thống kê của xã, hiện Lục Hồn có 68 hộ DTTS, hộ nghèo, cận nghèo (đối tượng được hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt theo Quyết định 755/QĐ-TTg, ngày 20-5-2013) có nhu cầu về đất sản xuất nông nghiệp; 138 hộ có nhu cầu hỗ trợ xây dựng hệ thống bể chứa nước, đường ống dẫn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất. Tổng kinh phí hơn 2,6 tỷ đồng, không kể đất sản xuất.
Đến xã Vô Ngại, theo chỉ dẫn của anh Đinh Quang Phong, Phó Chủ tịch UBND xã, chúng tôi “mục sở thị” công trình cung cấp nước sạch, gồm một bể chứa nước có dung tích 100m3 cùng hệ thống ống dẫn nước từ khe nước trên núi về, cung cấp nước sinh hoạt cho người dân thôn Tùng Cầu, thôn trung tâm của xã, do Công ty CP Xây dựng và Phát triển hạ tầng kỹ thuật (trụ sở ở thị trấn Tiên Yên) thi công, kinh phí trên 3 tỷ đồng. Đến nay, sau hơn 2 năm thi công đã hoàn thành bể chứa nước, hệ thống ống dẫn nước, nhưng do thiếu kinh phí, hạng mục xử lý đập dâng nước trên đầu nguồn chưa được triển khai, nên công trình vẫn chưa thể đưa vào sử dụng. Nhiều hộ dân thôn Tùng Cầu vui bao nhiêu khi thấy công trình được khởi công, thì nay thất vọng bấy nhiêu vì bể xây xong đã vài tháng, nhưng nước chẳng thấy đâu.
Vô Ngại hiện có 971 hộ, trong đó có tới 149 hộ có nhu cầu hỗ trợ về đất sản xuất, 30 hộ có nhu cầu hỗ trợ về đất ở và 150 hộ có nhu cầu hỗ trợ về nước sinh hoạt. Người dân, chính quyền xã cũng đã nhiều lần kiến nghị với huyện, tỉnh xem xét có biện pháp giải quyết, nhưng theo lãnh đạo xã: “Việc này không thể giải quyết được trong một sớm một chiều, nên người dân đành phải đợi…”.
Bất cập chung
Các xã và thị trấn khác của huyện cũng trong tình trạng tương tự. Nguyên nhân, đất lâm nghiệp cơ bản đã được giao khoán cho một số hộ dân, cho Công ty lâm nghiệp, đất quốc phòng. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp không tăng, có nơi còn giảm đi, nên việc đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về đất ở cho người dân gần như không thể, nên nhiều lao động chọn phương án chuyển đổi ngành nghề. Cùng với đó, dân số tăng theo thời gian, nhu cầu về đất ở, đất sản xuất càng trở nên cấp thiết…
Đây là khó khăn không chỉ của huyện Bình Liêu mà còn đối với nhiều địa phương như Tiên Yên, Ba Chẽ, Đầm Hà, Hải Hà... Nguyên nhân, theo tìm hiểu của tác giả bài viết này, quá trình triển khai ở các địa phương còn nhiều lúng túng, vướng mắc chậm được tháo gỡ; một số nơi chưa thực hiện tốt công tác tuyên truyền vận động người dân, dẫn đến còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Đa số các địa phương sau khi khai hoang đất giao cho dân, chưa tiến hành được thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ; chưa chủ động chuyển đổi hình thức hỗ trợ đất sản xuất sang hỗ trợ sản xuất, tạo nghề. Một số địa phương hỗ trợ dụng cụ chứa nước hiệu quả sử dụng thấp, không phù hợp; một số công trình nước sinh hoạt tập trung xây dựng từ lâu, đã xuống cấp hoặc không sử dụng được. Nguồn vốn đầu tư hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt còn hạn hẹp, chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác rà soát xây dựng đề án hỗ trợ theo Quyết định 134/2004/ QĐ-TTg ở một số địa phương chưa được tốt, dẫn đến một số hộ nghèo chưa được đưa vào diện thụ hưởng chính sách. Bên cạnh đó, sự điều chỉnh về tiêu chí hộ nghèo theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg, dẫn đến số hộ nghèo trong tỉnh tăng lên. Do vậy khi Chính phủ ban hành Quyết định 755/QĐ-TTg về tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, tỉnh vẫn còn nhiều đối tượng trong diện cần hỗ trợ.
Hiện Ban Dân tộc tỉnh đã phối hợp với các sở, ngành, địa phương liên quan rà soát, xây dựng Đề án hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn tỉnh giai đoạn 2014-2015 theo Quyết định 755 của Thủ tướng Chính phủ. Đề án phấn đấu đến hết năm 2015 giải quyết được 80% số hộ thiếu đất ở, đất sản xuất, cơ bản giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt…
Phạm Hoạch
Bài 3: “Phải đảm bảo tính công khai minh bạch, đúng đối tượng”
[links()] Hỗ trợ các hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số nghèo: Những kết quả rõ nét