Từ những mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp đến việc làm ổn định trong các khu sản xuất, phụ nữ Quảng Ninh đang từng bước khẳng định vị thế bằng chính thu nhập và năng lực của mình. Khi có việc làm, có thu nhập và có quyền quyết định cuộc sống, họ không còn ở thế bị động mà trở thành chủ thể của phát triển. Thực tiễn cho thấy, làm chủ kinh tế chính là con đường trực tiếp và bền vững để phụ nữ tạo dựng bình đẳng cho chính mình.
Những mô hình thực tiễn và sự chủ động của phụ nữ
Tại Quảng Ninh, câu chuyện phụ nữ làm chủ kinh tế hiện diện rõ trong đời sống. Từ vùng cao đến khu công nghiệp, từ hợp tác xã đến doanh nghiệp, nhiều phụ nữ đang từng bước khẳng định vai trò bằng chính thu nhập và công việc của mình.
Ở xã Đầm Hà, chị Vương Thị Huyền lựa chọn một hướng đi không dễ khi đứng ra thành lập và điều hành Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Tổng hợp Việt Huyền. Ở vùng cao, nơi lâu nay vẫn được xem là “vùng trũng” của bình đẳng giới, việc một phụ nữ đứng ra làm kinh tế mang ý nghĩa không chỉ là làm ăn, mà còn là thay đổi cách nhìn.
Những ngày đầu, chị Huyền loay hoay với vốn, kinh nghiệm, đầu ra sản phẩm. Vừa làm, vừa học, chị tham gia các lớp tập huấn, tìm hướng đi phù hợp. Với sự nỗ lực của chị và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, hợp tác xã từ sản xuất nông nghiệp đã dần mở rộng sang ươm giống, trồng cây ăn quả, kinh doanh nông sản, phát triển nhà vườn sinh thái. Đến nay, hợp tác xã tạo việc làm cho khoảng 35 - 40 lao động, thu nhập bình quân khoảng 6 triệu đồng/người/tháng. Quan trọng hơn, nhiều phụ nữ địa phương không còn phải rời quê đi làm ăn xa. Chị Huyền chia sẻ: Trước đây nhiều chị em chỉ làm nông nhỏ lẻ, thu nhập không ổn định. Khi vào hợp tác xã, có việc làm, có thu nhập, chị em tự tin hơn".
Với xuất phát điểm là người nông dân, chị Huyền nay đã trở thành người đứng đầu một mô hình kinh tế tập thể hoạt động hiệu quả. Câu chuyện của chị cho thấy, khi có thu nhập và vai trò trong sản xuất, phụ nữ từng bước khẳng định vị thế của mình ngay trong gia đình và cộng đồng.
Rời vùng cao xuống khu vực doanh nghiệp, câu chuyện lại có một màu sắc khác, nhưng điểm chung vẫn là sự chủ động vươn lên của phụ nữ. Doanh nhân Cao Hồng Vân, Chủ tịch Công ty TNHH MTV Newstar là một điển hình. Sau hơn 20 năm gắn bó với ngành may mặc, chị quyết định chuyển hướng sang sản xuất nước mắm sá sùng, đặc sản của Vân Đồn.
Không có nền tảng chuyên môn, chị bắt đầu từ con số gần như bằng không. Nhiều lần thử nghiệm thất bại, nhưng chị vẫn kiên trì theo đuổi. Năm 2018, chị đầu tư hơn 50 tỷ đồng xây dựng nhà máy chế biến. Đến nay, mỗi năm doanh nghiệp sản xuất khoảng 40.000 lít nước mắm, sản phẩm đã đăng ký nhãn hiệu tại 16 quốc gia. Sau 2 năm chính thức hoạt động nhà máy, sản phẩm nước mắm của chị đã đạt Top 10 thương hiệu dẫn đầu năm 2020, Top 10 thương hiệu nổi tiếng châu Á – Thái Bình Dương năm 2021. Bản thân chị Vân cũng nhận nhiều danh hiệu như Bảng vàng Doanh nhân Đại Việt, Bông hồng Vàng – Nữ doanh nhân Việt Nam xuất sắc, Doanh nhân Sao Đỏ, “Nữ tướng thời bình”…
Theo chị Vân, chị mong muốn đưa đặc sản của Quảng Ninh đến nhiều vùng miền, không chỉ kinh doanh mà còn giữ được giá trị truyền thống của địa phương.
Bằng một hướng đi mới, chị Vân đã xây dựng được thương hiệu riêng, tạo việc làm cho lao động địa phương. Nhưng quan trọng hơn, chị cho thấy phụ nữ hoàn toàn có thể đứng vững và cạnh tranh trên thương trường bằng chính năng lực của mình.
Nếu như hợp tác xã và doanh nghiệp thể hiện vai trò làm chủ, thì tại các doanh nghiệp sản xuất, việc làm ổn định lại là điểm tựa giúp nhiều phụ nữ thay đổi cuộc sống. Ở Đặc khu Vân Đồn, vùng biển đảo với nhiều điều kiện đặc thù, nơi việc tìm kiếm việc làm ổn định còn khó khăn, sự xuất hiện của các doanh nghiệp đã mở ra cơ hội rõ rệt. Tại Công ty TNHH Taiheiyo Shinju Việt Nam, hơn 200 lao động, trong đó khoảng 89% là nữ, phần lớn trước đây các chị làm nông nghiệp, nay đã có công việc ổn định.
Công việc nuôi cấy ngọc trai diễn ra ngoài biển, nhưng công ty bố trí thời gian làm việc 7,5 giờ/ngày; thu nhập bình quân khoảng 10 triệu đồng/tháng, cao nhất có thể đạt 26 triệu đồng. Người lao động được hưởng đầy đủ bảo hiểm, hỗ trợ đời sống; những ngày thời tiết xấu không đi làm được các chị vẫn được hưởng 70% lương sản phẩm. Lao động nữ mang thai được bố trí công việc phù hợp, vẫn giữ nguyên thu nhập.
Chị Phạm Thị Hồng (nhân viên Công ty TNHH Taiheiyo Shinju Việt Nam), mẹ đơn thân nuôi hai con, là một trường hợp tiêu biểu. Trước đây làm nông, thu nhập bấp bênh, cuộc sống nhiều áp lực, từ khi vào công ty, chị có việc làm ổn định, được hỗ trợ kịp thời. Chị Hồng tâm sự: “Từ khi vào công ty, tôi có lương đều, Công ty hỗ trợ thêm học phí cho con lớn mỗi tháng 1 triệu, nên tôi yên tâm làm việc hơn”.
Sau những năm tháng vất vả, công việc bấp bênh, chị Hồng đã trở thành người chủ động kinh tế của gia đình. Không chỉ riêng chị, nhiều phụ nữ đã chuyển từ làm nông sang làm công hưởng lương, có thu nhập ổn định và chủ động hơn trong cuộc sống.
Bà Lê Thị Nết, Phó Chủ tịch MTTQ, Chủ tịch Công đoàn Đặc khu Vân Đồn cho biết: "Chính quyền, doanh nghiệp và công đoàn luôn quan tâm tạo việc làm, chăm lo đời sống cho lao động nữ để chị em yên tâm gắn bó và phát triển".
Bên cạnh việc làm, nguồn vốn tín dụng cũng mở thêm cơ hội cho phụ nữ phát triển kinh tế. Tại phường Mông Dương, Hội LHPN phường phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai hiệu quả các nguồn vốn vay. Năm 2025, Hội giải ngân cho 94 hộ với tổng vốn trên 9,2 tỷ đồng; tổng dư nợ đạt 23,3 tỷ đồng với 333 hộ vay, không phát sinh nợ quá hạn. Ngoài ra, 85 hội viên được hỗ trợ vay từ Ngân hàng SeABank với dư nợ 7,1 tỷ đồng. Thông qua sự hỗ trợ từ nguồn vốn này, nhiều hội viên mạnh dạn đầu tư sản xuất, kinh doanh, từng bước nâng cao thu nhập.
Trang trại sinh thái Lý Văn Sinh của gia đình bà Nguyễn Thị Thu Hiền là một điển hình. Gia đình trồng hơn 2.000 cây ăn quả, thu khoảng 800 triệu đồng/năm; trồng keo đạt khoảng 700 triệu đồng; chăn nuôi lợn thịt xuất bán khoảng 14 tấn, thu gần 600 triệu đồng; nuôi cá cho thêm 50–100 triệu đồng. Tổng doanh thu đạt khoảng 2,2–2,4 tỷ đồng/năm, lợi nhuận 1–1,2 tỷ đồng. Không chỉ phát triển kinh tế gia đình, bà Hiền còn hỗ trợ con giống cho một số hộ khó khăn. Theo bà Hiền nhờ vốn vay, gia đình bà có điều kiện mở rộng sản xuất, kinh tế ổn định hơn và chủ động hơn trong cuộc sống. Trước đây làm nhỏ lẻ nên thu nhập bấp bênh, giờ có điều kiện đầu tư bài bản, gia đình bà Hiền yên tâm làm ăn lâu dài. Khi kinh tế vững hơn, trang trại cũng có thể hỗ trợ thêm cho các hộ khó khăn và tạo việc làm cho lao động tại địa phương.
Qua những mô hình cụ thể, có thể thấy khi phụ nữ có việc làm, có thu nhập và được tiếp cận nguồn lực, họ từng bước làm chủ kinh tế gia đình, chủ động hơn trong cuộc sống và khẳng định vị thế của mình. Những kết quả này không phải ngẫu nhiên, mà là nền tảng được hình thành từ những chính sách và cách làm cụ thể, tạo điều kiện để phụ nữ phát triển kinh tế một cách bền vững.
Tạo nền tảng để phụ nữ phát triển kinh tế
Ở Quảng Ninh, phụ nữ không chỉ chiếm gần một nửa dân số (khoảng 49,5%) mà còn là lực lượng lao động quan trọng, với khoảng 47% trong độ tuổi lao động. Thực tế cho thấy, phụ nữ đã hiện diện ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế. Trong các doanh nghiệp, khu công nghiệp, lao động nữ chiếm trên 65%, góp phần quan trọng vào khu vực công nghiệp - dịch vụ. Ở khu vực nông, lâm, ngư nghiệp, khoảng 43,6% phụ nữ vẫn gắn bó với sản xuất, phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động vẫn đang diễn ra theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp.
Một điểm đáng chú ý là tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương đạt khoảng 50%. Con số này cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt từ lao động tự cung tự cấp sang việc làm có thu nhập ổn định, có hợp đồng, có bảo hiểm. Khi có việc làm ổn định, phụ nữ không chỉ cải thiện đời sống mà còn có điều kiện bảo đảm an sinh, từng bước khẳng định vai trò trong nền kinh tế.
Không chỉ tham gia lao động, phụ nữ Quảng Ninh ngày càng chủ động trong sản xuất kinh doanh. Tỷ lệ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ đạt gần 40% trong nhóm doanh nghiệp được thống kê. Nhiều doanh nghiệp do phụ nữ điều hành không chỉ tạo việc làm mà còn tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội tại địa phương.
Ở khu vực kinh tế tập thể, vai trò của phụ nữ cũng thể hiện rõ hơn qua từng mô hình cụ thể. Tỉnh đã triển khai Đề án “Hỗ trợ hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý và tạo việc làm cho lao động nữ đến năm 2030”. Từ chủ trương này, các cấp Hội đã hỗ trợ thành lập, củng cố nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác do phụ nữ tham gia quản lý, với kết quả vượt hơn 6 lần so với chỉ tiêu đề ra.
Để tạo nền tảng cho phụ nữ phát triển kinh tế, nhiều chính sách hỗ trợ sản xuất, kinh doanh được tỉnh triển khai đồng bộ. Các chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ khởi nghiệp, chuyển đổi số được đẩy mạnh, gắn với nhu cầu thực tế. Hằng năm, các cấp Hội giúp khoảng 400 hộ phụ nữ thoát nghèo, cận nghèo; đồng thời hỗ trợ khoảng 1.000 phụ nữ là chủ doanh nghiệp, quản lý hợp tác xã, chủ hộ kinh doanh nâng cao kiến thức, năng lực quản trị. Từ đó, nhiều mô hình kinh tế do phụ nữ làm chủ không chỉ phát triển sản xuất mà còn tạo việc làm ổn định tại địa phương.
Trong khuôn khổ Dự án 8 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, do Hội phụ nữ các cấp chủ trì, công tác đào tạo kỹ năng công nghệ, chuyển đổi số cho phụ nữ được chú trọng. Đến nay, khoảng 60% phụ nữ làm chủ mô hình sản xuất, kinh doanh đã được tập huấn ứng dụng khoa học công nghệ, từng bước tiếp cận thương mại điện tử, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Song song với đó, các chương trình đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm cũng được triển khai linh hoạt, giúp phụ nữ nâng cao kỹ năng, thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Tỉnh tổ chức nhiều lớp đào tạo sơ cấp, ngắn hạn, đồng thời hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi. Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế đạt 3,63 tỷ đồng, hỗ trợ 275 hộ vay vốn sản xuất, kinh doanh. Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã hỗ trợ 405 hộ phụ nữ phát triển kinh tế, trong đó có 83 hộ nghèo và 322 hộ cận nghèo. Nhờ đó, nhiều phụ nữ từng bước ổn định cuộc sống.
Bên cạnh các chính sách hỗ trợ, hoạt động kết nối, xúc tiến thương mại cũng được quan tâm, góp phần mở rộng cơ hội cho phụ nữ phát triển kinh tế. Ngày 21/3 vừa qua tại Quảng Ninh, Hội Nữ doanh nhân Quảng Ninh phối hợp với Hiệp hội Nữ doanh nhân Hà Nội tổ chức Hội nghị kết nối thương mại giữa doanh nghiệp nữ hai địa phương. Tại chương trình, các doanh nghiệp trực tiếp giới thiệu sản phẩm, trưng bày gian hàng, trao đổi nhu cầu hợp tác; nhiều cơ hội liên kết đã được hình thành ngay tại hội nghị. Bà Lê Thị Thêm, Phó Chủ tịch Hội Nữ doanh nhân Quảng Ninh, cho biết: “Thông qua các hoạt động kết nối, chúng tôi mong muốn tạo thêm cơ hội để nữ doanh nhân mở rộng thị trường, tăng cường liên kết, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.”
Cùng với đó, các mô hình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế như CLB doanh nhân nữ, tổ nhóm sinh kế tiếp tục được duy trì và nhân rộng. Đây không chỉ là nơi chia sẻ kinh nghiệm mà còn giúp phụ nữ liên kết sản xuất, mở rộng cơ hội kinh doanh, nâng cao thu nhập. Những kết quả này góp phần giảm nghèo bền vững và từng bước thu hẹp khoảng cách giới trong tiếp cận nguồn lực kinh tế.
Một trong những mục tiêu quan trọng của tỉnh là giảm tỷ trọng lao động nữ trong nông nghiệp, tăng tỷ lệ làm việc trong khu vực công nghiệp và dịch vụ. Thực tế cho thấy xu hướng này đã rõ nét, giúp phụ nữ tiếp cận môi trường làm việc hiện đại, có thu nhập ổn định và được bảo đảm các chế độ. Khi không còn phụ thuộc vào sản xuất nhỏ lẻ, phụ nữ có điều kiện chủ động hơn trong kinh tế và trong các quyết định của gia đình. Bình đẳng giới vì thế không chỉ đến từ chính sách, mà được hình thành từ chính khả năng tự chủ kinh tế của phụ nữ – khi họ có việc làm, có thu nhập và có quyền quyết định cuộc sống của mình.