Trong ánh sáng đèn lò dưới hầm sâu có một thế hệ những người thợ mỏ vừa mang màu xanh áo lính, lại mang màu đen của áo thợ. Họ là những người lính thợ thuộc Binh đoàn 19 (Bộ Quốc phòng) đang ngày đêm khơi dòng "vàng đen" cho Tổ quốc.
Lính thợ trên mặt trận sản xuất than
Nếu chỉ đứng trên mặt đất nhìn những chiếc xe tải chở than nối đuôi nhau, chắc chắn nhiều người sẽ không hiểu hết nhọc nhằn của người thợ dưới những tầng hầm lò sâu hàng trăm mét. Để hiểu được thế giới ấy, chúng tôi đã chọn đi lò cùng bước chân của những người lính thợ.
Tại nhà giao ca, những người lính thợ kiểm tra lại từng chiếc mũ bảo hộ, chỉnh lại quần áo, đôi ủng, chiếc bình tự cứu cẩn trọng tuyệt đối như người lính sắp xung trận. Thực tế là do sinh sau đẻ muộn với ngành Than nên hầu hết mỏ của các doanh nghiệp ở Binh đoàn 19 đều rơi vào những vùng tài nguyên nghèo, phân tán và địa chất phức tạp. Ví như phạm vi khai thác của Công ty 91 kéo dài từ Hồ Thiên cho tới Quảng La. Anh Hoàng Văn Vĩnh, Tổ trưởng Tổ Khai thác số 1, Công trường 2, Công ty 91 (Binh đoàn 19) là người thợ lò đậm nét phong trần. Anh Vĩnh sinh ra ở vùng quê nghèo của tỉnh Bắc Ninh. Trước khi trở thành một người lính thợ, anh đã từng đi làm phụ hồ qua nhiều công trình. Bước ngoặt cuộc đời đến vào một ngày cuối năm 2001, qua lời giới thiệu của một người bạn, anh quyết tâm khăn gói đi học tại Trường mỏ Hữu nghị Việt - Xô, sau đó về làm việc tại Công ty 91.
Hơn 2 thập kỷ gắn bó với từng mét lò, chất thép của môi trường quân đội đã rèn giũa Hoàng Văn Vĩnh thành một thợ lò luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao, đảm bảo an toàn tuyệt đối, phát huy phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trên mặt trận sản xuất than. Tại các đơn vị của Binh đoàn 19, những vỉa than được chinh phục bằng một thứ vũ khí đặc biệt, đó là tinh thần thi đua yêu nước và bản lĩnh của những người lính thợ. Đơn cử như tại Công ty 790, một trong những cánh chim đầu đàn trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào khai thác hầm lò. Là đơn vị khai thác hầm lò thuộc diện mỏ nhỏ, điều kiện địa chất rất phức tạp, để thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, những năm qua Công ty 790 luôn khắc phục điều kiện khai trường hạn hẹp, chủ động đổi mới kỹ thuật, ứng dụng có hiệu quả các tiến bộ KHCN vào sản xuất. Mỗi năm, Công ty đã chi hàng chục tỷ đồng để đầu tư, mua sắm thêm trang thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất. Với cách làm này, hiện nay công nghệ khai thác của đơn vị đã đảm bảo tương đối hiện đại, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Nhờ đó, tại những hội nghị vinh danh thợ lò xuất sắc tiêu biểu của đơn vị, nhiều người lính thợ còn rất trẻ bước lên bục vinh danh với nụ cười rạng rỡ, sức trẻ và tinh thần xung kích. Họ đã tìm tòi, đề xuất các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa dây chuyền sản xuất, làm lợi cho đơn vị và Nhà nước hàng tỷ đồng mỗi năm. Mỗi người có một câu chuyện đời, câu chuyện nghề khác nhau, nhưng họ có chung một điểm tựa là sự dìu dắt của những người chỉ huy.
"Thủ lĩnh" của những người lính thợ ở đây không chỉ ngồi phòng máy điều hành, mà trực tiếp lội bùn, kiểm tra từng cột chống thủy lực, kiểm tra hàm lượng khí mỏ cùng anh em trong ca kíp. Họ thấu hiểu từng tiếng thở dài của người thợ trẻ nhớ nhà, chia sẻ từng ngụm nước giữa ca làm việc nóng bức. Chính sự gương mẫu, "đứng mũi, chịu sào" của những người thủ lĩnh đã thắp lên ngọn lửa nhiệt huyết cho thế hệ trẻ, giữ nhịp thi đua sản xuất liên tục từ ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác. Mỗi tấn than vượt kế hoạch, mỗi mét lò đào mới an toàn chính là những bông hoa chiến công của những người lính thợ trong quân đội làm kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng vững chắc.
Từ trong điều kiện hầm lò khó khăn vất vả, xuất hiện những gương thợ lò tiêu biểu, xuất sắc, đã tạo sự lan tỏa sâu rộng, tích cực trong đơn vị. Những tấm gương thợ lò tiêu biểu đã kịp thời cổ vũ, khích lệ, động viên tinh thần người thợ mỏ yên tâm công tác, gắn bó xây dựng đơn vị, tô thắm và phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ.
Chất lính và chất thợ
Một lần khác, xuống lò chợ của Công ty Khe Sim, chúng tôi hiểu được rằng chất lính và chất thợ mỏ được pha trộn nhuần nhuyễn. Đi trong lò chợ, chúng tôi nhìn thấy giữa bốn bề than đen những ánh mắt khao khát làm chủ kỹ thuật. Mộc mạc và giản dị trong cuộc sống, nhưng quyết liệt trong công việc. Kỹ sư Nguyễn Mạnh Đức (33 tuổi), Phó Quản đốc Công trường Khai thác số 1 là một chàng trai sinh ra và lớn lên tại quê hương Ninh Bình. Đức vốn chỉ quen với ruộng đồng rồi học Đại học Mỏ địa chất, nên khi trở thành kỹ sư khai thác tại Công ty 86, có quá nhiều bỡ ngỡ với những gương than hun hút trong lòng đất. Chàng kỹ sư khai thác đi lò được vài tháng thì xin về quê cưới vợ. Cũng có người cho rằng Đức không chịu nổi cái vất vả dưới lò nên sẽ bỏ việc về quê làm. Nhưng mọi phỏng đoán đều sai, vì sau vài hôm thì Đức trở lại, không phải một mình, mà đưa luôn cả vợ mới cưới ra Vùng mỏ lập nghiệp.
Giống như anh Đức anh Vũ Văn Kiên 37 tuổi cũng đưa vợ (chị Đỗ Thị Giang) từ Thanh Hóa ra đây lập nghiệp. Hiện nay, vợ chồng anh đã tích lũy mua đất xây được nhà, sắm sửa được nhiều đồ dùng tiện nghi.
Sau câu chuyện với những thợ lò, có một câu hỏi luôn bám chúng tôi suốt những chuyến thực tế tại các đơn vị của Binh đoàn 19, đó là điều gì đã giữ chân những người lính thợ ở lại với hầm lò qua năm tháng, bất chấp những vất vả, nhọc nhằn? Câu trả lời không nằm đâu xa, nó nằm ngay trong chính sách chăm lo toàn diện của đơn vị, sự sâu sát của người chỉ huy và sự thấu hiểu, đồng hành từ hậu phương gia đình.
Hãy nhìn vào cuộc sống hằng ngày của người thợ lò tại Công ty Khe Sim để thấy một hệ thống hậu cần chu đáo đến nhường nào. Với đặc thù đơn vị vừa quản lý khai thác lộ thiên, vừa khai thác hầm lò, khối lượng công việc cực kỳ lớn và phân tán, nhưng không vì thế mà công tác chăm sóc đời sống người lao động bị xem nhẹ. Bình quân mỗi ngày, hệ thống nhà ăn của Khe Sim phục vụ khoảng 1.700 suất ăn công nghiệp. Những hộp cơm nóng hổi, thức ăn được thay đổi thực đơn theo ngày giàu dinh dưỡng, được bảo quản trong các thùng cách nhiệt và vận chuyển xuống tận các lò chợ, gương than. Ngoài ra, việc duy trì nghiêm túc chế độ sữa, nước giải nhiệt giữa ca, tổ chức đưa đón thợ lò bằng xe chất lượng cao, xây dựng khu chung cư thợ lò khang trang như khách sạn đã biến cả Binh đoàn 19 thành một "mái nhà thứ hai" đúng nghĩa.
Nhưng hơi ấm gia đình không dừng lại sau cánh cổng gác hầm mỏ, mà lan tỏa, len lỏi vào từng nếp sinh hoạt của mỗi công ty. Đơn cử như Công ty 35 thường tổ chức các buổi gặp mặt ấm áp dành riêng cho gia đình những thợ lò tiêu biểu xuất sắc. Tại những buổi gặp mặt ấy, lãnh đạo Công ty đã trân trọng mời những người vợ, người mẹ của thợ lò đến tham dự. Những người phụ nữ lam lũ từ các vùng quê bước vào hội trường trang trọng, giọt nước mắt xúc động lăn dài trên má khi thấy chồng, con mình được vinh danh, mới hiểu hết giá trị của hai từ "hậu phương".
Lãnh đạo các đơn vị đã trao tận tay những người vợ, người mẹ thợ lò những phần quà ý nghĩa. Gia đình thợ lò có thêm những chuyến tham quan, nghỉ mát dài ngày để được đoàn tụ, nghỉ ngơi. Những chương trình như "Mái ấm công đoàn - Nghĩa tình đồng đội" đã hỗ trợ xây dựng hàng trăm ngôi nhà tình nghĩa cho những thợ lò có hoàn cảnh khó khăn. Chính sự trân trọng, chăm lo vẹn toàn từ bữa cơm dưới lò, đến mái nhà trên mặt đất, đã gắn kết thành một sợi dây nghĩa tình bền chặt.
Dọc đường đi bộ lên mặt đất, chúng tôi dành thời gian chiêm nghiệm về quãng đường lò vừa mới đi qua, về những người lính thợ đang đổ mồ hôi trong lòng đất. Đất đá lẫn than, lẫn cả mồ hôi để thử thách sự kiên nhẫn của người thợ. Dù đất bạc màu, nhưng những vỉa than không bao giờ phụ công người. Than trả ơn người. Từ đây, than sẽ đi muôn nơi để góp lửa cho đời.
Chúng tôi cùng những người lính thợ bước ra khỏi cửa lò. Lớp bụi than đen nhẻm bám trên khuôn mặt không che được những nụ cười rạng rỡ và ánh mắt đầy tự hào. Họ tự hào vì hòn than đen lấp lánh từ tay họ làm ra giờ đây đang xuôi dòng về mọi miền đất nước, mang theo nguồn nhiệt lượng để thắp lửa cho những công trình đang vươn cao.