Di tích lịch sử Bạch Đằng 1288, thuộc TX Quảng Yên, nơi ghi dấu những chiến công oanh liệt trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trải qua hơn 700 năm, dấu tích còn lại đến ngày nay là hệ thống các bãi cọc Yên Giang, bãi cọc Đồng Má Ngựa, bãi cọc Đồng Vạn Muối, là những nguyên gốc di tích, đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Các đợt khai quật khảo cổ từ cuối những năm 1950 khi nhân dân phát hiện hàng ngàn cây cọc trong quá trình đắp đê, sản xuất nông nghiệp. Kết quả của việc nghiên cứu khảo cổ học, so sánh với các tư liệu lịch sử, truyền thuyết, thần tích... về vùng chiến trường Bạch Đằng, đã góp phần phục dựng lại bức tranh toàn cảnh chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
Địa hình dòng sông cổ, dòng chảy của sông Bạch Đằng và địa tầng văn hoá vật chất, nơi Trần Hưng Đạo chọn làm trận địa cọc mai phục và những hiện vật cọc gỗ tìm thấy qua các đợt khai quật khảo cổ học gần đây, gồm 3 bãi cọc chính: Bãi cọc Yên Giang do quân dân nhà Trần cắm ở đầu chi lưu sông Chanh có chiều dài khoảng 120m theo hướng Bắc - Nam, rộng 30m. Cọc được cắm theo hình chữ chi, cách nhau từ 0,9-1,1m và nghiêng theo hướng ngược dòng sông. Trải qua một thời gian dài, số cọc hiện còn khoảng 300 cọc là gỗ lim, táu, sến, đường kính từ 15-33cm. Bãi cọc này được phát hiện vào năm 1953, hiện nằm trong “đầm Nhử” thuộc phường Yên Giang. Bãi cọc Đồng Vạn Muối nằm trong đầm nước và ruộng lúa thôn Đồng Cốc, phường Nam Hoà có hình chữ nhật, phía Đông, phía Nam giáp cánh đồng lúa thôn Đồng Cốc, phía Tây giáp đê sông Bạch Đằng, phía Bắc giáp đồng lúa thôn Đồng Cốc và ghềnh đá sông Chanh (ghềnh Cốc) là ghềnh đá chạy ngang qua sông Bạch Đằng. Vị trí bãi cọc Đồng Vạn Muối nằm ở đầu sông Rút hay còn gọi là sông Nam, với địa hình năm 1288, sông Rút là một chi lưu của sông Bạch Đằng đổ ra cửa Nam Triệu. Tháng 11-2005, Viện Khảo cổ học Việt Nam và Sở Văn hoá Thông tin (nay là Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch) đã phối hợp nghiên cứu khảo cổ thám sát quy mô, mật độ, tầng văn hoá của bãi cọc. Ở đây, các cọc được cắm theo hình chữ chi, cách nhau từ 0,6-1,1m và nghiêng theo hướng ngược dòng sông, số cọc hiện còn khoảng 600-1.000 cọc là gỗ lim, táu, sến, đường kính cọc từ 10-30cm. Bãi cọc Đồng Má Ngựa thuộc thôn Hưng Học, phường Nam Hoà được phát hiện vào năm 2009 do nhân dân đào ao nuôi cá làm phát lộ cọc. Bãi cọc được cắm ngang một nhánh của dòng sông Kênh cổ nối chi lưu sông Rút và sông Chanh có chiều dài khoảng 70m theo hướng Đông - Tây, chiều rộng khoảng 30m theo hướng Bắc - Nam, mật độ cọc phân bố không đều. Do bị nước và các tác nhân bào mòn, số cọc hiện còn nằm sâu trong lòng đất, dài từ 0,5-1m, đường kính cọc từ 20-22cm...
Từ các nguồn sử liệu, tư liệu hán nôm, các câu chuyện truyền thuyết, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể tìm được qua các đợt khai quật khảo cổ ở di tích Bạch Đằng và những sinh hoạt văn hoá, lễ hội, tâm linh của cư dân vùng sông nước Bạch Đằng Giang. Bước đầu nhận định Trần Hưng Đạo đã khảo sát và nghiên cứu rất kỹ địa hình vùng chiến trường để làm công tác chuẩn bị trận địa cọc. Dấu tích khảo cổ học, loại hình và tính chất của các cọc gỗ đã được phát hiện, tìm thấy, có thể khẳng định Trần Hưng Đạo và quân dân nhà Trần đã huy động mọi nguồn lực cho trận đánh mang tính quyết định. Gỗ đóng cọc được lấy từ ngay tại địa phương và có thể từ các vùng xa hơn, kết thành bè vận chuyển theo đường sông. Việc đóng cọc bằng kỹ thuật “dộng lắc” kết hợp với kinh nghiệm của nhân dân địa phương được sử dụng trong vùng nước sâu chứa nhiều bùn cát, với những cọc lớn, thường được cắm đứng (bãi cọc Yên Giang, các cọc cắm giữa dòng ở bãi cọc Đồng Má Ngựa). Những kỹ thuật đóng cọc khác được sử dụng ở các bãi bồi, trong khi đó, cọc ở các bãi lầy, ven bờ có nhiều kích cỡ khác nhau, tận dụng từ nhiều nguồn, được cắm thành cụm ríc rắc, theo nhiều hướng có tác dụng ngăn chặn thuyền nhỏ và đặc biệt là quân bộ. Các bãi cọc có thể đã được bố trí ở tất cả các đường nước trong khu vực đảo Hà Nam, và Yên Giang xen giữa những doi đất cao và gò đá tạo nên thế trận nhiều lớp. Việc bố trí các cánh quân bộ, thuyền nhỏ ở ven sông Bạch Đằng và những khu vực gò cao giữa các bãi cọc này, được đoán định từ các địa danh và di tích như: Gò Tàu Chìm, đình Trung Bản, đền Trung Cốc, đình Đền Công, Trại An Hưng... cùng với các lực lượng tiếp ứng chủ lực, chứng tỏ sự chuẩn bị rất công phu và tài tình cho một trận đánh mang tính chất tiêu diệt.
Những chiếc cọc gỗ được Trần Hưng Đạo bố trí thành trận địa cọc kết hợp với con nước thuỷ triều và địa thế lòng sông đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng ngày 8-3-1288 (năm Mậu Tý) lẫy lừng. Chỉ trong một ngày, trên dòng sông Bạch Đằng, toàn bộ cánh quân Nguyên Mông gồm hơn 600 chiến thuyền, 4 vạn quân giặc đã bị tiêu diệt và bắt sống cùng với tướng Ô Mã Nhi. Đây là chiến thắng mang ý nghĩa chiến lược giành thắng lợi vang dội, toàn diện để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử, kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba. Trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng năm 1288 là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Đại Việt, là chiến công mang tầm vóc thời đại, gắn với Thiên tài quân sự, Anh hùng dân tộc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đem lại nền thái bình, thịnh trị cho đất nước, cho muôn dân...
Ngô Đình Dũng
(Phòng Văn hoá - Thông tin TX Quảng Yên)