Những người giữ hồn văn hóa Vùng mỏ

Những ngày giáp Tết, ký ức vùng than lại hiện hữu sâu đậm qua các tác phẩm nghệ thuật. Bằng tâm huyết cả cuộc đời, những nghệ sĩ, nghệ nhân nơi đây đã miệt mài lưu giữ “hồn cốt” quê hương, để mỗi sáng tác trở thành lát cắt sinh động về lịch sử và con người Vùng mỏ qua bao thế hệ.

Nhạc sĩ Đỗ Hòa An: "Viết" Quảng Ninh bằng âm nhạc

Trong dòng chảy âm nhạc Quảng Ninh, Đỗ Hòa An (tên thật Đỗ Văn Đồng, SN 1951) là nhạc sĩ đã dành trọn tâm huyết đưa nhịp sống Vùng mỏ vào những giai điệu đi cùng năm tháng. Tốt nghiệp Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam năm 1971, ông gắn bó lâu dài với Quảng Ninh qua công tác tại Đoàn Ca múa nhạc, Cung Văn hóa thiếu nhi và giảng dạy tại Trường Đại học Hạ Long.

Nhạc sĩ Đỗ Hòa An vẫn miệt mài sáng tác, "truyền lửa" cho thế hệ trẻ.
Nhạc sĩ Đỗ Hòa An vẫn miệt mài sáng tác, "truyền lửa" cho thế hệ trẻ.

Nhạc sĩ chia sẻ: Học ở Thủ đô, sống ở vùng trung du, lại được về vùng biển, gắn bó với vùng than đã cho tôi những xúc cảm mới mẻ. Càng gắn bó, đi khắp vùng than, biển đảo, tôi càng cảm thấy luôn mới lạ, dạt dào cảm xúc cho sáng tác của mình.

Sống ở Quảng Ninh cùng vô số chuyến đi lên rừng xuống biển ấy đã tạo nên một kho chất liệu sống động, để từ đó ông “viết” Quảng Ninh bằng âm nhạc. Và cũng không ngạc nhiên khi ông có kho tàng sáng tác đồ sộ trên 700 ca khúc, trải rộng nhiều mảng đề tài như Tổ quốc, Đảng, Bác Hồ, biển đảo, mái trường... Dấu ấn sâu đậm nhất trong sự nghiệp của nhạc sĩ Đỗ Hòa An vẫn nằm ở các ca khúc viết về biển, ngành Than, người thợ mỏ.

Có lẽ vì giàu trải nghiệm cảm xúc đã tạo nên nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự hài hòa, "nhuyễn” trong kết hợp hình tượng: Than và biển. Những ca khúc như: Quê em, Hạ Long biển nhớ… không chỉ vẽ nên bức tranh về sự lãng mạn, cảnh đẹp, mà còn khắc họa sinh động vùng than, hình ảnh người thợ mỏ. Ở đó, vùng than được hiện lên, được kể bằng đời sống lao động cụ thể và giàu cảm xúc như tiếng bước chân công nhân ca kíp sớm chiều, như nhịp máy, nhịp goòng hay tiếng sóng biển Cô Tô hòa vào đời sống.

Nhiều ca khúc của ông có cấu trúc giai điệu chắc, tiết tấu khỏe, mang hơi hướng hành khúc nhưng được “làm mềm” bằng âm hưởng dân gian và lối viết trữ tình, tạo nên không gian âm nhạc rắn rỏi mà giàu cảm xúc. Với Mộ gió (phổ thơ Trịnh Công Lộc), Trụ biển hay Mặt trời trên Khuê Văn Các, ông khai thác chất liệu âm nhạc giàu tính biểu tượng, kết hợp âm hưởng dân gian miền Trung với nhịp hành khúc chậm, tạo nên những tác phẩm lắng sâu, hướng về ký ức cộng đồng.

Nhạc sĩ Đỗ Hòa An luôn lấy cảnh đẹp, con người, vùng đất Quảng Ninh là cảm hứng sáng tác.
Nhạc sĩ Đỗ Hòa An luôn lấy cảnh đẹp, con người, vùng đất Quảng Ninh là cảm hứng sáng tác.

Năm 2022, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật cho cụm tác phẩm gồm: Mộ gió, Hạ Long biển nhớ, Mặt trời trên Khuê Văn Các, Trụ biển. Đây là sự ghi nhận không chỉ cho số lượng tác phẩm, mà cho vẻ đẹp, chất cảm xúc, sức sáng tác lâu bền của nhạc sĩ viết về Vùng mỏ bằng âm nhạc.

Nhà điêu khắc Kiều Sỹ Khuê: Điêu khắc như lăng kính lịch sử Vùng mỏ

Trong mạch ký ức về Vùng mỏ, Kiều Sỹ Khuê (SN 1946) hiện lên như một gương mặt tiêu biểu của điêu khắc Quảng Ninh. Gần trọn đời sáng tác, ông bền bỉ khắc họa hình tượng Bác Hồ và người công nhân mỏ qua những lát cắt lịch sử đặc trưng của vùng than.

Mối duyên nghề của ông bắt đầu từ giảng đường. Từ những năm là sinh viên Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Kiều Sỹ Khuê đã gắn hành trình sáng tác với đề tài Bác Hồ và vùng than, khởi nguồn từ việc thực hiện tượng Bác năm 1969, khi Người mất. Trong hoàn cảnh sơ tán, tư liệu về Bác khan hiếm, chỉ là vài hình ảnh báo in đen trắng mờ nhòe, ông buộc phải chắt lọc từng chi tiết, gạn tìm thần thái. Sự công phu ấy giúp các tác phẩm sơ khai giai đoạn 1969-1970 được đánh giá cao, làm khuôn để nhân bản phục vụ trưng bày rộng khắp và trở thành khởi nguồn cho mạch sáng tác về Bác Hồ kéo dài suốt đời ông.

Nhà điêu khắc Kiều Sỹ Khuê luôn tâm huyết với các sáng tác của mình.
Nhà điêu khắc Kiều Sỹ Khuê luôn tâm huyết với các sáng tác của mình.

Trọng tâm trong hành trình nghệ thuật của ông là việc “ghi lại Vùng mỏ”, quê hương thứ hai của mình, bằng hệ điêu khắc với bao cảm xúc, gắn bó. Ở mảng về Bác Hồ với Vùng mỏ, ông để lại dấu ấn bằng những tác phẩm tiêu biểu như phù điêu Bác với đội trồng rừng ở đồi thông Yên Lập (1999), tác phẩm đầu tiên gắn hình tượng Bác với một không gian cụ thể của Quảng Ninh; tác phẩm lớn Bác Hồ về thăm Cô Tô gồm 22 nhân vật (dài 6m, cao 3m, xong năm 1979), thực hiện trong 7 tháng và hoàn thành năm 1979; nhóm tượng Cháu mãi khắc ghi lời Bác (2009) tái hiện Bác về thăm Tuần Châu với bố cục không gian ba chiều.

Đặc biệt, ông còn có tượng thạch cao toàn thân chân dung Bác cao 1,8m (1985) trong dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng Vùng mỏ; tượng Bác Hồ thăm đảo Ngọc cao 2,15m với bệ tượng đặt ở Nhà lưu niệm Bác Hồ trên đảo Ngọc Vừng. Trong cuộc đời sáng tác của mình, ông có hơn 25 tác phẩm về Bác với nhiều kích thước khác nhau; trong đó có mẫu tượng Bác được chọn làm mẫu thống nhất đặt tại hội trường trên toàn quốc.

Song song với mạch sáng tác về Bác Hồ, Kiều Sỹ Khuê ghi lại “ký ức Vùng mỏ” qua các tác phẩm về công nhân mỏ và phong trào đấu tranh cách mạng. Theo ông, lịch sử được lưu giữ không chỉ bằng tư liệu, mà bằng hình tượng có sức bền và khả năng lay động cảm xúc.Trong kho tàng đồ sộ, ông có các sáng tác tiêu biểu như: Vùng mỏ ngày giải phóng (1985), Vùng mỏ cướp chính quyền (1995), Thợ mỏ trước gương than (composit, 2000), hay cụm tác phẩm về tượng đài Vũng Đục… cùng hàng loạt tác phẩm về vùng than, các mỏ, phong trào công nhân khác.

Nhà điêu khắc Kiều Sỹ Khuê với tác phẩm chân dung Bác Hồ.
Nhà điêu khắc Kiều Sỹ Khuê với tác phẩm chân dung Bác Hồ.

Ông chia sẻ: Để phản ánh chân thực, khắc họa sống động, tôi chọn phong cách hiện thực xã hội chủ nghĩa với nền móng là cảm xúc. Tôi không “làm đẹp” ký ức Vùng mỏ; mà làm cho ký ức ấy đúng, đầy và sinh động nhất bằng biểu tượng để khắc họa, để người xem cảm nhận được cái hồn của tác phẩm.

Theo đó, ông dựng lịch sử bằng những biểu tượng giàu sức gợi: Người thợ mỏ đạp đổ biển tên Công ty than Bắc Kỳ (Pháp), giơ cao hòn than như tuyên ngôn làm chủ lao động; công nhân dù bị thương vẫn giữ lá cờ trên Vùng mỏ; những chiến sĩ Vũng Đục kề vai nhau, ngay cả khi bị trói và chĩa súng. Theo phong cách hiện thực xã hội chủ nghĩa, điêu khắc của Kiều Sỹ Khuê trở thành một lăng kính phản chiếu lịch sử Vùng mỏ, vẽ lại khí phách, lịch sử sống động bằng đường nét, hình khối biểu tượng.

Nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đỗ Kha: Người giữ lại "hơi thở" thời đại bằng ảnh

Với nghệ sĩ Đỗ Kha, máy ảnh vừa là công cụ ghi nhận hiện thực, vừa là phương tiện lưu giữ ký ức. Sinh năm 1938, gốc Bãi Cháy, như ông tâm sự, nơi tuổi thơ “bước ra khỏi nhà là biển”, ông bắt đầu chụp Vịnh Hạ Long từ thập niên 1960, khi di sản còn hoang sơ, chưa chịu nhiều tác động từ đô thị hóa, du lịch... Ảnh của ông không chạy theo sự hoành tráng, mà tập trung vào vẻ đẹp tự nhiên và nhịp sống con người: Từ mặt nước, làn sương, vách núi đến những khoảnh khắc bình dị của cư dân vùng biển - Vùng mỏ trong chuyển động.

Nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đỗ Kha chia sẻ về nhưng tác phẩm thời còn chụp phim đen trắng.
Nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đỗ Kha chia sẻ về nhưng tác phẩm thời còn chụp phim đen trắng.

Thế nhưng ít ai biết rằng, điều nuôi dưỡng đam mê sáng tác, nhiếp ảnh lại đi từ chính khao khát cống hiến, nhiệt tình cách mạng của một công nhân, một nhà báo giàu nhiệt huyết. Ông kể: Thời chống Pháp, khi còn nhỏ, ông đã được người cha, một chiến sĩ cách mạng giao nhiệm vụ. Đó cũng là lần đầu ông tiếp xúc máy ảnh khi ông được giao dùng máy ảnh chụp ảnh sơ đồ bố trí đồn bốt của giặc Pháp rồi đi bộ vào tận Sơn Dương giao cho cán bộ.

Ông có thời gian làm công nhân mỏ rồi được giao nhiệm vụ về công tác ở báo Than trong bối cảnh chiến tranh. “Là người được chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh, sự tàn phá của bom đạn trên quê hương Quảng Ninh xinh đẹp đã cho tôi khát khao cầm máy, ghi lại tất cả các khoảnh khắc đó” - ông chia sẻ.

Và có lẽ vì thế, ông là một trong số các phóng viên đã xông pha lên ghi lại những hình ảnh lịch sử của chiến tranh biên giới năm 1979 và có hơn 100 tác phẩm ảnh đen trắng quý giá về đề tài này. Dấu mốc nghề nghiệp đặc biệt của Đỗ Kha là năm 1994, khi ông được giao thực hiện 160 phim dương bản phục vụ hồ sơ trình UNESCO công nhận Vịnh Hạ Long là Di sản Thiên nhiên thế giới.

NSNA Đỗ Kha là người ghi lại nhiều khoảnh khắc đẹp về Vịnh Hạ Long với góc nhìn đặc biệt của một nhà báo.
NSNA Đỗ Kha là người ghi lại nhiều khoảnh khắc đẹp về Vịnh Hạ Long với góc nhìn đặc biệt của một nhà báo.

Đó là quá trình lao động nghiêm túc: Đi thực địa nhiều hang đảo tiêu biểu, chụp trong điều kiện thời tiết cuối năm khắc nghiệt, để mỗi khuôn hình vừa đạt chuẩn tư liệu, vừa đảm bảo giá trị thẩm mỹ. Với các danh hiệu E.VAPA (Nghệ sĩ nhiếp ảnh xuất sắc) và A.FIAP (Nghệ sĩ nhiếp ảnh quốc tế), cùng sách ảnh Vịnh Hạ Long được trao các giải thưởng quan trọng, ông được ghi nhận như một trong những người góp phần “làm hồ sơ di sản” bằng ánh sáng.

Sức nặng trong nhiếp ảnh Đỗ Kha nằm ở cách ông lùi lại để quan sát và để khoảnh khắc tự lên tiếng. Không áp đặt cảm xúc, ông giữ cho hình ảnh sự tự nhiên và chiều sâu thời gian. Hơn 40 bức ảnh đen trắng về Vịnh Hạ Long mà ông tâm đắc trở thành phần ký ức không thể lặp lại, gợi mở một Hạ Long của quá khứ và nhắc nhở giá trị bền vững của di sản hôm nay.

Cùng chuyên mục