Nữ quyền trong việc thực hành Then nghi lễ

Trải qua quá trình lịch sử lâu dài lưu giữ, trao truyền và phát triển, Then Tày ở Quảng Ninh hiện nay tồn tại dưới 2 hình thức: then tín ngưỡng và then văn nghệ. Khác với then văn nghệ, then tín ngưỡng (hay còn gọi là then cổ, then nghi lễ) ở Quảng Ninh hiện nay, những người hành lễ toàn bộ đều là phụ nữ (các bà then).

Nghệ nhân Ưu tú Hoàng Thị Viên và các nghệ nhân ở xã Bình Liêu thu nhận đệ tử là các bé gái.
Các nghệ nhân ở xã Bình Liêu thu nhận đệ tử là các bé gái..

Then nghi lễ là loại hình diễn xướng dân gian có nguồn gốc từ cổ xưa, được các thầy then thực hành để phục vụ mục đích tín ngưỡng của cộng đồng. Có thể trong quá trình thiên di, lan tỏa khắp vùng Đông Bắc, dù có những biến đổi khác nhau nhưng ở Quảng Ninh hiện nay then nghi lễ vẫn giữ nguyên đối tượng thực hành là nữ giới. Người Tày ở Quảng Ninh gọi then là “Slin”, phụ nữ làm then gọi là “mè Slin”, đàn ông làm then gọi là “pò Slin”. Có lẽ sau này, do một nguyên nhân nào đó mà ở Quảng Ninh chỉ còn giới nữ thực hành nghi lễ then. Tuy nhiên, điều đó cũng chứng tỏ vấn đề nữ quyền, tính chất bình đẳng giới trong việc thực hành nghi lễ tâm linh của người Tày Quảng Ninh.

Theo tác giả Dương Kim Bội trong sách “Về phần văn học trong Then”, “Then là trời, là tiên, là “môn tiên”, “tiên” để chỉ phụ nữ (trong tư duy của người Tày - Nùng ít thấy xuất hiện đàn ông)”. Người thực hành được các nghi lễ then phải là những người có khả năng đặc biệt. Tác giả Nông Văn Hoàn, trong cuốn “Mấy vấn đề về Then Việt Bắc” cho rằng: “Then là tiên (có nơi gọi là sliên) là người của trời. Họ là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc hoàng và Long vương. Khi làm then là họ đại diện cho người của trời giúp cho người trần gian cầu mong được sự tốt lành, được tai qua nạn khỏi…”.

Nghệ nhân Ưu tú Hoàng Thị Viên dạy các cháu hát then.
Nghệ nhân Ưu tú Hoàng Thị Viên dạy các cháu hát then.

Theo quan niệm của người Tày và trong thực tế, Then là người được trời cử xuống hoặc được tổ tiên có nghiệp then lựa chọn để giúp người trần gian thực hiện các nghi lễ then, đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng. Để trở thành một người làm then được cộng đồng công nhận, trước hết họ phải là những người có căn số, nhẹ vía và được trời hay tổ tiên có nghề then lựa chọn. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Yên, Viện Nghiên cứu Văn hóa, bên cạnh lý do tâm linh là căn số những người làm then thường có đặc điểm xuất thân: Từ gia đình có truyền thống làm nghề Then hoặc nghề thầy cúng nhiều đời hoặc nối nghiệp nhà chồng.

Khi được một bà then có đầy đủ quyền năng cho phép theo làm đệ tử, gia đình có người cần phải theo nghiệp sắm sửa lễ vật, mời thầy đến nhà làm lễ. Đến làm lễ cùng thầy còn có các đệ tử của thầy và đồng môn của người được thầy thu nhận lần này (gọi là bạn chàng). Nghi lễ đó gọi là son chàng có ý nghĩa báo cáo tổ nghề có người chính thức theo nghiệp then. Người này được gọi là con chàng và sẽ thực hiện đầy đủ các luật tục theo quy định.

Thực tế những người phụ nữ làm then là dân lao động. Họ là những người yêu ca hát, trân trọng làn điệu dân ca của mình một cách tự nhiên, có tinh thần học hỏi, ghi nhớ tốt lời ca. Với tính chất là một lễ hội của nghề then, các bà then đã thể hiện tình nghĩa thầy trò, tinh thần cộng đồng, sự đoàn kết tương trợ giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và rộng ra là trong làng bản, khu vực.

Không chỉ người làm then được gọi là tiên mà hình tượng phụ nữ trên tranh thờ khi thực hành nghi lễ cũng được gọi là các cô tiên. Phía sau và bên phải bàn thờ then (theo hướng bà Then ngồi đối diện với bàn thờ khi làm lễ) trong lễ lẩu Then thường có 12 bức, chia làm 3 nhóm. Mỗi nhóm tranh có 4 bức. Mỗi bức có hình một người phụ nữ hay thiếu nữ, kiểu tranh tứ bình của người Kinh. Bốn người phụ nữ trong nhóm đầu, mỗi người đang chơi một loại nhạc cụ (nguyệt, nhị, sáo, tỳ bà). 4 phụ nữ ở nhóm 2, người ngoài cùng thổi sáo, người trong cùng chơi đàn, 2 người ở giữa, người bên trái cầm một thứ gì đó bên tay phải, có thể là một dụng cụ tạo âm thanh; người bên phải tay phải cầm quạt, tay trái thực hiện một động tác múa.

Nhóm thứ 3, được treo ở bức tường phía trong, giáp với nhóm thứ hai. Nhóm tranh này mầu sắc sặc sỡ hơn, cả 4 bức đều thể hiện hình ảnh Phật bà quan âm đứng trên đài sen hoặc hồ sen, phía trên tỏa hào quang.

Những bà then khi thực hành diễn xướng Then sử dụng cả quạt, chùm nhạc xóc và tính tẩu khi hành lễ. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Yên, cây tính tẩu gắn với thực hành Pụt (Pựt/Bụt) với giai đoạn đầu làm phụ nữ nghề. Nhận định này nói lên rằng, then nghi lễ ở Quảng Ninh hiện nay gần với then ở giai đoạn nguyên sơ nhất.

Trong nhịp sống hiện đại, các bà then Quảng Ninh đã tích cực bảo tồn và phát huy ở đây cần được thực hiện trên cơ sở phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tiêu cực trong các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng. Họ đã giản lược một số nội dung hành lễ không còn phù hợp với cuộc sống hiện đại, như: Than thở số phận con người do trời định đoạt, ca ngợi việc cúng nạp lễ lạt để lấy chức, thăng chức v.v. Việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật diễn xướng then nghi lễ thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyện vọng, phong tục, tập quán của bà con dân bản ở mỗi địa bàn hướng đến xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Cùng chuyên mục