Quảng Ninh chứa đựng “kho báu” của nền văn hoá truyền thống đa dạng với hơn 360 di sản văn hoá phi vật thể của các dân tộc Kinh, Tày, Dao, Sán Dìu, Sán Chỉ... được lưu giữ qua lễ hội, diễn xướng dân gian, trang phục, ngôn ngữ và tri thức bản địa. Trong quá trình bảo tồn, phát huy những di sản này, phụ nữ địa phương chính là chủ thể đóng vai trò quan trọng, truyền dạy và làm sống lại các giá trị văn hoá truyền thống, từ các điệu hát dân gian đến nghề thủ công tinh xảo.
Ở các xã vùng cao thuộc khu vực miền Đông của tỉnh Quảng Ninh, những người phụ nữ luôn gắn bó mật thiết với các nghề truyền thống đặc trưng như thêu thùa, đan lát. Các bà, các mẹ người Dao, người Sán Chỉ gìn giữ nghề thêu may trang phục truyền thống và tận tình truyền dạy cho thế hệ trẻ từng đường kim, mũi chỉ, giúp những tri thức dân gian này không bị mai một theo thời gian. Việc truyền dạy thường diễn ra trong gia đình hoặc các nhóm cộng đồng, tạo nên sự kế thừa tự nhiên giữa các thế hệ.
Năm 2025, tri thức dân gian về nghệ thuật may trang phục truyền thống của người Sán Chỉ và tri thức dân gian nghệ thuật may và trang trí trang phục người Dao Thanh Phán tỉnh Quảng Ninh đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Không dừng lại ở nghề thủ công, phụ nữ Quảng Ninh còn là lực lượng nòng cốt trong việc duy trì các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian như hát then - đàn tính, hát soóng cọ, hát chèo, xẩm, chầu văn... Tại nhiều địa phương, các câu lạc bộ văn nghệ cấp xã, thôn do Hội LHPN phối hợp thành lập, thu hút đông đảo chị em tham gia, trở thành “hạt nhân” biểu diễn tại các lễ hội như: Lễ hội đình Lục Nà, Hội Hoa sở, Ngày hội Kiêng gió, Hội Soóng cọ…
Cụ thể ở các xã Bình Liêu, Hoành Mô, các CLB văn nghệ cấp xã và cấp thôn với đa phần thành viên là phụ nữ thường xuyên tham gia biểu diễn hát then, đàn tính trong các dịp sinh hoạt cộng đồng. Điều này không chỉ góp phần gìn giữ nét đẹp truyền thống mà còn tạo không gian gặp gỡ, gắn kết đời sống văn hóa cơ sở.
Bên cạnh đó, phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số cũng chủ động, tích cực lồng ghép bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong các mô hình du lịch cộng đồng. Nhiều sản phẩm thêu, may truyền thống được giới thiệu tới du khách; các tiết mục dân ca trở thành điểm nhấn trong các sự kiện văn hóa địa phương. Di sản vì thế không chỉ được gìn giữ mà còn được khai thác hợp lý, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và tạo thêm thu nhập cho người dân.
Với những bộ môn nghệ thuật truyền thống khác như hát chèo, hát xẩm, chầu văn…, những người phụ nữ thuộc thế hệ hôm nay cũng đang tiếp nối mạch nguồn truyền thống ấy. Nghệ sĩ xẩm Nguyễn Thu Phương (phường Uông Bí), Nguyễn Thị Huyền (phường Bãi Cháy), Vũ Hương Giang (phường Mạo Khê) là những người phụ nữ trẻ đại diện cho thế hệ hôm nay đang gìn giữ nghệ thuật hát xẩm theo cách riêng, thông qua những lớp truyền dạy hát xẩm được mở miễn phí cho cộng đồng, hay đưa xẩm trở thành một sản phẩm du lịch phục vụ du khách, tìm cách để nghệ thuật truyền thống tiếp cận được với thế hệ trẻ hôm nay.
Trong bối cảnh hội nhập, khi đời sống hiện đại có nguy cơ làm mờ nhạt nhiều giá trị truyền thống thì vai trò của người phụ nữ trong gìn giữ văn hóa càng trở nên rõ nét. Họ vừa là người lưu giữ ký ức, vừa là người “truyền lửa”, thực hành và trao truyền. Bằng sự chủ động, trách nhiệm và bền bỉ, sự đóng góp của họ, cùng với các thành viên khác trong cộng đồng, tạo nên nền tảng vững chắc để bản sắc văn hóa địa phương được kế thừa và phát triển, cho các thế hệ hôm nay và mai sau.