Chín tháng năm 2026, Quảng Ninh thu hút 1.349,5 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 62,5% tổng vốn thu hút. Trên nền tảng kết quả này, thành phố đang triển khai các nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, hướng tới thu hút dòng vốn chất lượng cao, tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước và nâng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài.
Kết quả thu hút FDI 9 tháng năm 2026 cho thấy sức hấp dẫn của Quảng Ninh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo. Theo báo cáo của Sở Tài chính, thành phố đã cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 26 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 659,68 triệu USD; có 85 lượt dự án điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trong đó 22 lượt tăng vốn với tổng vốn bổ sung 689,66 triệu USD. Ngoài ra, thành phố tiếp nhận 2 giao dịch góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với giá trị vốn góp được báo cáo là 571.086 USD, trong đó một giao dịch giữa hai nhà đầu tư nước ngoài không được tính vào vốn thu hút.
Như vậy, tổng vốn FDI thu hút trong 9 tháng đạt 1.349,5 triệu USD. Trong cơ cấu vốn, công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với 842,87 triệu USD, chiếm 62,5%; kinh doanh bất động sản đạt 494,98 triệu USD, chiếm 36,7%. Hai lĩnh vực bán buôn, bán lẻ và nghệ thuật, thể thao, giải trí chiếm tỷ trọng nhỏ, lần lượt khoảng 0,8% và 0,1%.
Cơ cấu này cho thấy công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực thu hút vốn chủ lực. Đáng chú ý, vốn tăng thêm từ các dự án đang hoạt động đạt 689,66 triệu USD, cao hơn tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới. Điều đó cho thấy việc tạo điều kiện để nhà đầu tư duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất và bổ sung vốn có ý nghĩa thiết thực đối với kết quả thu hút đầu tư.
Xét theo địa bàn, các khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) tiếp tục là nơi tập trung phần lớn dòng vốn FDI. Trong 9 tháng, khu vực này thu hút 1.303,85 triệu USD, chiếm 96,6% tổng vốn toàn thành phố. Trong đó, 13 dự án cấp mới đăng ký 628,1 triệu USD và 20 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn bổ sung 675,57 triệu USD. Ngoài các KCN, KKT, thành phố thu hút 45,68 triệu USD, chiếm 3,4% tổng vốn FDI.
Tỷ trọng vốn tập trung tại các KCN, KKT cho thấy vai trò của mặt bằng sản xuất, hạ tầng kỹ thuật và khả năng tổ chức không gian công nghiệp trong thu hút nhà đầu tư. Đây cũng là cơ sở để Quảng Ninh tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, chuẩn bị quỹ đất sạch, nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và lựa chọn dự án phù hợp với định hướng phát triển dài hạn.
Tuy nhiên, quy mô vốn đăng ký mới là một chỉ dấu về sức hấp dẫn đầu tư, chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh tế - xã hội của từng dự án. Chất lượng dòng vốn còn phụ thuộc vào tiến độ triển khai, năng lực sản xuất, công nghệ sử dụng, giá trị gia tăng, đóng góp ngân sách, chất lượng việc làm và mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh từ thu hút vốn theo số lượng sang lựa chọn nhà đầu tư có năng lực, dự án có công nghệ phù hợp và khả năng tạo giá trị lâu dài.
Định hướng này phù hợp với Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết xác định yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút, quản lý và sử dụng FDI; tăng cường liên kết với các khu vực kinh tế trong nước; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Kế hoạch số 83-KH/TU ngày 28/7/2026; Đảng ủy UBND thành phố ban hành Kế hoạch số 71-KH/ĐU ngày 20/8/2026 để triển khai thực hiện. Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu xây dựng kế hoạch của UBND thành phố, đồng thời rà soát, đề xuất hoàn thiện các cơ chế, chính sách và danh mục dự án thu hút đầu tư giai đoạn 2026-2030.
Theo mục tiêu được xác định trong kế hoạch của thành phố, giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh phấn đấu thu hút tối thiểu 15 tỷ USD vốn FDI đăng ký, bình quân 3 tỷ USD/năm; vốn thực hiện đạt tối thiểu 12,71 tỷ USD, bình quân 2,54 tỷ USD/năm. Thành phố tiếp tục phấn đấu nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và khả năng tiếp nhận dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
Để đạt mục tiêu, Quảng Ninh định hướng ưu tiên 5 chuỗi lĩnh vực gồm điện tử - tự động hóa; logistics - cảng biển; kinh tế xanh; hạ tầng số; du lịch cao cấp. Đây là những lĩnh vực có khả năng khai thác lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống KCN, KKT, hạ tầng giao thông và dịch vụ của địa phương, đồng thời mở ra dư địa thu hút các dự án có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao.
Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, khoảng 75% vốn FDI đến từ các quốc gia, vùng lãnh thổ có nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; tăng tối thiểu 30% số tập đoàn đa quốc gia thuộc danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại địa bàn. Định hướng thu hút cũng mở rộng sang các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, điều hành và dịch vụ dùng chung; đồng thời quan tâm những doanh nghiệp nước ngoài quy mô vừa và nhỏ nhưng sở hữu công nghệ lõi, công nghệ chuyên biệt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Những mục tiêu này đòi hỏi hoạt động xúc tiến đầu tư phải đi vào chiều sâu. Thay vì chỉ giới thiệu lợi thế và tìm kiếm dự án, các cơ quan chức năng cần chủ động tiếp cận đúng nhà đầu tư, nắm bắt nhu cầu về địa điểm, hạ tầng, nhân lực, logistics và điều kiện vận hành; qua đó xây dựng phương án hỗ trợ phù hợp, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án và nâng cao khả năng chuyển các cam kết đầu tư thành năng lực sản xuất thực tế.
Cùng với định hướng thu hút dự án, Quảng Ninh đang triển khai các nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố, Sở Tài chính đã phối hợp với các sở, ngành tham gia ý kiến đối với hồ sơ dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW, gửi Bộ Tài chính tổng hợp tại Văn bản số 9269/STC-KTĐN ngày 20/8/2026. Trong đó, các nhiệm vụ được định hướng theo hướng rà soát quy định chồng chéo, nâng cao tính minh bạch, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị đầu tư; phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm tra và giám sát tiến độ dự án.
Nhiều nhà xưởng sản xuất trong KCN Hải Hà đang tiếp tục được triển khai đầu tư xây dựng.
Một môi trường đầu tư cạnh tranh không chỉ được tạo nên bởi chính sách ưu đãi mà còn bởi khả năng giải quyết công việc nhất quán, đúng thời hạn, giảm chi phí tuân thủ và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với các cơ quan quản lý là chuyển từ tư duy xử lý thủ tục đơn thuần sang chủ động tháo gỡ vướng mắc, hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện đúng quy định, đồng thời tăng cường hậu kiểm để bảo đảm dự án triển khai đúng mục tiêu, tiến độ và cam kết.
Công tác quản lý cũng cần gắn với việc kiểm soát chất lượng dự án. Thành phố xác định tăng cường giám sát tiến độ thực hiện, thực hiện kiểm định độc lập đối với máy móc, công nghệ theo yêu cầu quản lý; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn và kịp thời xử lý những dự án chậm triển khai, sử dụng nguồn lực không hiệu quả. Việc tạo thuận lợi cho nhà đầu tư phải đi cùng kỷ cương thực thi pháp luật, bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội.
Cùng với cải thiện thủ tục, hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống người lao động cần được đầu tư đồng bộ. Thành phố định hướng ưu tiên hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số, quỹ đất sạch và hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại các KCN, KKT; đồng thời quan tâm nhà ở, y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội thiết yếu. Đây là những điều kiện trực tiếp tác động đến chi phí hoạt động, khả năng tuyển dụng, giữ chân lao động và quyết định mở rộng sản xuất của doanh nghiệp.
Quảng Ninh cũng hướng tới phát triển KCN sinh thái, kết hợp hoạt động sản xuất với sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng và kiểm soát chất thải. Theo mục tiêu đến năm 2030, KCN sinh thái, bao gồm các khu chuyển đổi và thành lập mới, phấn đấu chiếm khoảng 10% tổng số KCN của thành phố. Định hướng này đặt ra yêu cầu lựa chọn công nghệ phù hợp, nâng cao tiêu chuẩn môi trường và tổ chức kết nối giữa các doanh nghiệp để tận dụng hiệu quả nguyên liệu, năng lượng, hạ tầng dùng chung.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là tăng cường liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước. Nếu doanh nghiệp nội địa chỉ tham gia ở những khâu giản đơn, giá trị gia tăng thấp, tác động lan tỏa của dòng vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế sẽ còn hạn chế. Bởi vậy, Quảng Ninh đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp chủ lực, hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn cải thiện năng lực quản trị, công nghệ, chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của các nhà đầu tư quốc tế.
Theo kế hoạch, thành phố phấn đấu có khoảng 300-400 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI vào năm 2030. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tăng cường kết nối cung - cầu giữa doanh nghiệp FDI và nhà cung ứng nội địa; cung cấp thông tin về tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình kiểm soát chất lượng, yêu cầu giao hàng và chứng nhận sản phẩm; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng đơn hàng ổn định và phát triển quan hệ hợp tác dài hạn.
Phát triển nguồn nhân lực cũng là điều kiện quyết định chất lượng dòng vốn. Thành phố đặt mục tiêu tỷ lệ lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động đạt trên 85% vào năm 2030, đồng thời nâng cao tỷ lệ người Việt Nam đảm nhiệm các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành và quản trị chuỗi cung ứng tại những dự án FDI chất lượng cao. Để đáp ứng yêu cầu này, cần tăng cường liên kết giữa chính quyền, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong dự báo nhu cầu, xây dựng chương trình đào tạo và tổ chức thực hành theo vị trí việc làm. Quan hệ lao động hài hòa, ổn định cũng cần được duy trì để doanh nghiệp yên tâm sản xuất, người lao động có cơ hội nâng cao tay nghề và thu nhập.
Cùng với các giải pháp trên, Quảng Ninh tiếp tục đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư, tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan đại diện ngoại giao và tổ chức xúc tiến thương mại, đầu tư quốc tế; rà soát, hoàn thiện danh mục dự án thu hút đầu tư ngoài ngân sách giai đoạn 2026-2030 để làm cơ sở tiếp cận các nhà đầu tư chiến lược. Danh mục dự án cần gắn với quy hoạch, lợi thế của từng địa bàn, khả năng đáp ứng hạ tầng và yêu cầu phát triển bền vững, qua đó nâng cao tính chủ động trong xúc tiến và lựa chọn nhà đầu tư.
Với tầm nhìn đến năm 2045, Quảng Ninh hướng tới phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân; trở thành một trong những trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh cao của cả nước. Thành phố phấn đấu để khu vực này chiếm khoảng 18% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 10% GRDP.
Để đạt được mục tiêu dài hạn, kết quả thu hút vốn cần được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, công nghệ, việc làm chất lượng cao và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Khi nhà đầu tư được tạo điều kiện hoạt động ổn định, dự án thực hiện đúng cam kết, người lao động được nâng cao kỹ năng và doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, FDI sẽ tạo thêm động lực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng của Quảng Ninh.
Thực hiện: Thu Nguyên
Trình bày: Vũ Đức