Câu chuyện Cty Trường Ngân vỡ nợ và 7 ngân hàng (NH) cho Cty này vay vốn đang giành nhau số càphê đã được thế chấp cho cả 7 NH này đang đặt ra vấn đề là dường như NH phải chấp nhận nhiều rủi ro khi tham gia loại hình cho DN thế chấp hàng tồn kho để vay vốn.
Chuyện không mới
Cty TNHH Trường Ngân đã đem 3.360 tấn càphê trị giá 100 tỉ đồng đi thế chấp vay tổng cộng 600 tỉ đồng tại 7 NH. Cty này đã vỡ nợ và số càphê này bị cưỡng chế, cùng với việc các NH đang tranh chấp số càphê này. Nhìn lại trong quá khứ thì không có quá ít vụ việc kiểu như vậy đã xảy ra.
Đơn cử là câu chuyện về 5 NH trên địa bàn thành phố Cần Thơ “tranh chấp” quanh kho hàng của Cty chế biến thủy sản An Khang năm 2011.
Số tiền Cty này nợ 5 NH là 305 tỉ đồng và khi Cty có dấu hiệu mất khả năng chi trả, các NH mới “tá hoả” phát hiện hàng hóa tồn kho luân chuyển tổng cộng hơn 1.000 tấn mà Cty này dùng để thế chấp, bên cạnh tài sản bất động sản dùng thế chấp là một kho hàng hoàn toàn rỗng.
Vì Cty An Khang đã ký thoả thuận giao toàn bộ 2 kho hàng đã dùng thế chấp để “trả” cho các hộ bán cá tra nguyên liệu mà Cty còn nợ.
Thực tế mà nói thì việc cho DN thế chấp hàng tồn kho để vay vốn là một nghiệp vụ bình thường. Thậm chí đây là một trong những giải pháp được các chuyên gia kinh tế và không ít NH đánh giá rất tích cực để cứu DN khỏi tình trạng đói vốn. Một khi chấp nhận cho vay là phải có rủi ro.
Theo ý kiến đánh giá của một chuyên viên phụ trách quản lý rủi ro của một NH nước ngoài thì khi quyết định cho DN vay theo loại hình nghiệp vụ này thì chủ yếu là NH tin tưởng vào DN. Rất khó cho các NH trong việc xác định khi thẩm định hồ sơ vay của DN.
Mặc dù có Trung tâm thông tin tín dụng về lịch sử vay của DN nhưng NH chỉ có thể kiểm tra được DN đã vay NH khác bao nhiêu, lịch sử trả nợ tốt hay xấu, còn về vấn đề tài sản thế chấp thì không kiểm tra được. Ở đây như trường hợp Cty Trường Ngân là vay nợ nhưng thế chấp bằng hàng hóa luân chuyển của Cty chứ không phải thế chấp bằng bất động sản có chứng từ rõ ràng.
Loại hình thế chấp này khá rủi ro. Tuy nhiên, theo chuyên viên này thì lý do lớn nhất dẫn đến những sai sót như trường hợp Trường Ngân vẫn là do chủ quan từ phía NH, từ phương pháp nhận tài sản đảm bảo là hàng hóa mà không có dấu hiệu nhận biết rõ ràng và quản lý một cách thận trọng.
Không vì ngại mà không phát triển
“Phòng kẻ ngay nhưng khó ai phòng được kẻ gian” chính là một trong những phương châm mà có lẽ qua các bài học thực tiễn chưa nguội, các NH sẽ không dám quên. Cũng chính vì độ rủi ro lớn mà hiện tại các NH đang đặt ra khá nhiều điều kiện khắt khe đối với cho vay mà tài sản thế chấp bằng hàng hóa, thậm chí đang rất hạn chế cho vay với hình thức thế chấp này.
Tuy nhiên, điều này khiến những DN làm ăn đàng hoàng, minh bạch đang có nhu cầu tiếp cận vốn tín dụng để duy trì và tái sản xuất kinh doanh sẽ cảm thấy bức xúc. Bởi không thể vì “một vài con sâu” là các DN có dụng ý xấu, có lịch sử tín nhiệm “đen” mà đi đến dè chừng trong việc cho vay ra với loại hình này.
Theo ý kiến của các chuyên gia, để mô hình nghiệp vụ này có thể phát triển đúng hướng và hạn chế rủi ro cho NH thì có thể thấy không thể bỏ quên một điều là bảo hiểm hàng hoá tồn kho. Cần phải có các tổ chức bảo hiểm, phải thực thi các nghiệp vụ định giá hàng hoá bao hoặc xác định tỉ lệ chiết khấu khi hoán chuyển hàng qua thị trường thứ cấp.
Ngoài ra, cũng cần phải tính đến việc xây dựng một sàn giao dịch chuyên mua bán hàng tồn kho thứ cấp, gọi là “chợ thứ cấp”. Đó là “đầu ra” cho các hàng hoá tồn kho được mua đi bán lại, luân chuyển giữa DN, các NH, các tổ chức đầu tư, bảo hiểm và các tổ chức khác trong toàn bộ thị trường, để hàng tồn kho không chỉ là tài sản đọng và rơi vào viễn cảnh mất giá sau một thời gian nhất định.
Theo Lao động