Trong không gian và chiến lược phát triển mới, giá trị văn hóa, di sản tiếp tục được xác định là nguồn lực mở ra dư địa lớn cho thành phố Quảng Ninh phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và kinh tế di sản, kinh tế đô thị. Để biến tiềm năng thành giá trị thực, thành phố cần tháo gỡ những điểm nghẽn về sản phẩm, thị trường, nhân lực, cơ chế và phân bổ lợi ích... Từ đó, tạo nền tảng để cộng đồng cùng tham gia, di sản được tái đầu tư và tiếp tục tạo ra những giá trị mới.
Những “khoảng trống” nhìn từ thực tiễn
Xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh và động lực phát triển, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh cần phải phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển; đồng thời yêu cầu bảo tồn, phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản, phát triển mạnh công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa. Tiếp đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về “Phát triển văn hóa Việt Nam” đã cụ thể hóa hướng đi này bằng những yêu cầu trực tiếp hơn. Đó là xây dựng hệ sinh thái văn hóa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm; nhận diện đầy đủ, khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa, lấy di sản văn hóa làm trung tâm; đồng thời phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, gắn sản phẩm văn hóa với du lịch và hình thành chuỗi giá trị. Nghị quyết cũng đặt vấn đề phát triển kinh tế di sản, gắn bảo tồn, phát huy di sản với sinh kế cộng đồng và phát triển bền vững.
Yêu cầu cụ thể hóa một chủ trương lớn của Đảng trong điều kiện sở hữu nguồn tài nguyên di sản đặc biệt phong phú, bài toán đặt ra với Quảng Ninh không chỉ dừng ở bảo tồn và phát huy, mà phải nhận diện đúng những giá trị có khả năng tạo ra sản phẩm, tổ chức thị trường, hình thành sinh kế, tạo nguồn thu và từng bước tái đầu tư trở lại cho di sản. Trong định hướng trở thành thành phố di sản, Quảng Ninh đang đặt kinh tế di sản vào một không gian phát triển rộng hơn, gắn bảo tồn văn hóa với công nghiệp văn hóa, du lịch, dịch vụ và kinh tế đô thị. Mục tiêu đề ra, đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GRDP; du lịch đón 28 triệu lượt khách, tổng thu đạt 160.000 - 180.000 tỷ đồng, đóng góp 13 - 15% GRDP. Thành phố hướng tới hình thành 3 - 5 sản phẩm công nghiệp văn hóa mũi nhọn mang thương hiệu riêng; 2 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế; 3 khu du lịch quốc gia, 8 không gian kinh tế di sản và 6 khu vực phát triển kinh tế ban đêm trọng điểm, cùng các thiết chế văn hóa lớn như: Nhà hát Quảng Ninh, Trung tâm biểu diễn quốc tế. Tầm nhìn đến năm 2030, Quảng Ninh trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật, sự kiện và du lịch di sản cấp vùng, có sức hấp dẫn tại châu Á.
Những mục tiêu trên cho thấy một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển đồng thời đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển, trong đó các giá trị văn hóa phải được kết nối tạo ra giá trị kinh tế và xã hội có thể đo lường được. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Quảng Ninh phải giải quyết những mâu thuẫn đang tồn tại: Đảm bảo sự hài hòa giữa bảo tồn và khai thác, giữa lợi ích kinh tế với trách nhiệm gìn giữ, giữa yêu cầu phát triển nhanh với sức chịu tải của di sản...
Theo ThS. Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố, Quảng Ninh phải xử lý mối quan hệ giữa tiềm năng di sản thiên nhiên nổi trội với hạn chế về hạ tầng, cơ chế, chính sách; mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp khai thác than, tốc độ đô thị hóa với yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển du lịch, dịch vụ; mâu thuẫn giữa tăng trưởng về lượng khách với yêu cầu nâng cao chất lượng khu vực dịch vụ.
PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, chỉ ra một nghịch lý khác tại Quảng Ninh khi lượng khách lớn chưa đồng nghĩa với nguồn thu tương xứng. Du lịch chủ yếu vẫn dựa nhiều vào lượng khách và mức chi tiêu bình quân thấp, tăng trưởng về số lượng không đi đôi với tạo ra giá trị kinh tế cao.
Ở góc độ công nghiệp văn hóa, nhóm nghiên cứu của TS. Kiều Đinh Sơn, Trường Đại học Hạ Long, chỉ ra 6 điểm nghẽn lần lượt là: Du lịch còn thiên về tham quan, trong khi các ngành công nghiệp văn hóa có hàm lượng sáng tạo và giá trị gia tăng cao như điện ảnh, thiết kế, nội dung số chưa phát triển tương xứng. Sản phẩm văn hóa còn nghèo hàm lượng tri thức, thiếu các chương trình thực cảnh quy mô và chất lượng quốc tế. Hạ tầng số cho di sản chưa đồng bộ; cơ chế hợp tác công - tư và bảo hộ sở hữu trí tuệ còn nhiều rào cản. Đặc biệt, Quảng Ninh đang thiếu nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực văn hóa ở cả ba cấp độ quản lý, sáng tạo và vận hành công nghệ. Trong bối cảnh các địa phương ngày càng cạnh tranh bằng bản sắc, trải nghiệm và thương hiệu, đây là những điểm nghẽn cần được nhận diện và tháo gỡ nếu Quảng Ninh muốn biến lợi thế di sản thành sức mạnh cạnh tranh thực sự.
Nhìn từ các góc độ khác nhau, những nhận định trên cùng cho thấy thách thức lớn nhất của Quảng Ninh trên hành trình định hình thành phố di sản không nằm ở việc có bao nhiêu tài nguyên, mà ở khả năng tổ chức và chuyển hóa những lợi thế ấy thành động lực phát triển. Thành phố di sản vì thế không thể chỉ được nhận diện bằng những giá trị đã có, mà phải được thể hiện qua một nền kinh tế biết tạo ra sản phẩm, một không gian đô thị biết kết nối các giá trị, một thị trường đủ sức hấp dẫn và một hệ sinh thái văn hóa có khả năng tạo việc làm, sinh kế, nguồn thu và sức cạnh tranh.
Tổ chức lại nguồn lực di sản
Thực tế tại Quảng Ninh cho thấy, khoảng cách từ bảo tồn đến tạo giá trị kinh tế vẫn còn rất lớn. Lễ hội Tiên Công ở phường Phong Cốc là một ví dụ. Diễn ra từ mùng 5 đến mùng 7 tháng Giêng, lễ hội nhằm tưởng nhớ, tri ân 19 vị Tiên Công có công quai đê, lấn biển, khai phá, lập nên các làng xã vùng đảo Hà Nam. Điểm đặc sắc nhất là nghi thức “rước người sống” cùng nghệ thuật hát đúm và nhiều trò chơi dân gian đặc sắc. Năm 2017, lễ hội được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Mỗi mùa lễ hội thu hút hàng vạn người dân và du khách. Tuy nhiên, sức hút ấy vẫn chủ yếu tập trung trong 3 ngày hội trong khi những chất liệu văn hóa đặc sắc chưa được tổ chức thành chuỗi sản phẩm có khả năng kéo dài trải nghiệm của du khách và tạo nguồn thu ổn định cho cộng đồng trong cả năm.
PGS.TS Đặng Văn Bài, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia, đánh giá: “Cả nước ta, và thậm chí cả thế giới, không có một địa phương nào có lễ hội tôn vinh, tri ân ông bà mình đặc sắc như thế này cả”. Theo ông, cần nâng cấp Lễ hội Tiên Công thành một lễ hội điển hình của cả nước; định kỳ 5 hoặc 10 năm, cấp thành phố chủ trì tổ chức với quy mô lớn hơn, đồng thời kết nối lễ hội với du lịch cộng đồng, ẩm thực và các sản phẩm đặc trưng địa phương. Khi đó, giá trị của lễ hội có thể được mở rộng thành các hoạt động dịch vụ, trải nghiệm và sản phẩm quanh năm, tạo thêm thu nhập cho người dân và nguồn lực để tái đầu tư cho di sản.
Nếu Lễ hội Tiên Công đặt ra bài toán kéo dài giá trị của một lễ hội, thì hát giao duyên trên vịnh Hạ Long lại cho thấy khoảng trống trong việc kết nối di sản với thị trường. Là loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian gắn với đời sống, lao động, tình cảm và tình yêu của cộng đồng ngư dân làng chài, hát giao duyên được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025. Thế nhưng giữa lòng di sản thiên nhiên thế giới, nơi mỗi năm đón hàng triệu lượt khách, tiếng hát ấy ngày càng thưa vắng. Đội văn nghệ của Ban Quản lý Di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử hiện chưa tới 10 người có thể thực hành hình thức diễn xướng dân gian này. Lớp kế cận gần như không còn, trong khi những nghệ nhân còn lại đều đã lớn tuổi. Điều đáng nói, đây không phải di sản chưa từng được đầu tư. Nhiều năm qua, di sản đã được sưu tầm, nghiên cứu, phục dựng, truyền dạy, xây dựng không gian trình diễn và thử nghiệm khai thác du lịch, song vẫn chưa hình thành được thị trường ổn định. Vấn đề không chỉ nằm ở việc duy trì tiếng hát, mà ở cách tổ chức để di sản hiện diện thường xuyên trong chuỗi trải nghiệm của du khách; để nghệ nhân có điều kiện thực hành, người trẻ có động lực kế thừa, doanh nghiệp có thể tham gia và cộng đồng có thêm nguồn thu từ chính giá trị văn hóa của mình.
Với di sản ngành Than lại đặt ra một bài toán phức tạp hơn bởi đây là lớp di sản gắn với một không gian công nghiệp đang vận hành và đang trong quá trình chuyển đổi. Gần một thế kỷ hình thành và phát triển, ngành Than không chỉ tạo nên một ngành công nghiệp năng lượng chủ lực và đặc trưng mà còn bồi đắp một lớp văn hóa riêng có cho Quảng Ninh. Những di sản của ngành Than hiện diện trên những khai trường, đường lò, ký ức lao động và tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”, đã tạo nên một nguồn tài nguyên văn hóa đặc hữu, đồng thời mở ra dư địa phát triển song hơn chục năm nay kể từ khi những chuyến tham quan, famtrip đầu tiên được thực hiện tại mỏ than Đèo Nai, Cao Sơn… đến nay vẫn chưa có tour du lịch nào được triển khai.
Tại cuộc làm việc với Tập đoàn Công nghiệp Than, Khoáng sản Việt Nam (TKV) tháng 9/2026, Chủ tịch UBND thành phố Quảng Ninh Bùi Văn Khắng đề nghị TKV nghiên cứu chuyển đổi, tận dụng một số hạ tầng, không gian mỏ phù hợp để phát triển du lịch. Nếu thực hiện được, đây sẽ là bước chuyển từ việc lưu giữ dấu tích sang tổ chức và khai thác giá trị của di sản công nghiệp. Tuy nhiên, để hiện thực hóa vẫn còn tồn tại nhiều nút thắt về công tác an toàn và kỹ thuật; là quản lý đất đai, cơ chế hợp tác khi chuyển đổi công năng đất công nghiệp mỏ sang đất dịch vụ - du lịch chưa có quy trình đủ linh hoạt và năng lực tạo sản phẩm.
Ba trường hợp trên cho thấy ba khoảng trống khác nhau trong quá trình chuyển hóa di sản thành giá trị kinh tế. Đây cũng là những vấn đề Quảng Ninh phải giải quyết nếu muốn biến nguồn tài nguyên di sản thành một nguồn lực thực sự của thành phố di sản.
Tạo cơ chế, chính sách đặc thù
Những năm qua, Quảng Ninh đã dành nguồn lực đáng kể cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Từ tu bổ di tích, phục dựng nghi lễ, lễ hội có nguy cơ mai một, đến tổ chức các lớp truyền dạy văn hóa dân gian và duy trì hoạt động văn hóa cộng đồng. Nhưng bảo tồn để di sản không mất đi mới chỉ là bước đầu của câu chuyện kinh tế di sản. Khi hướng tới xây dựng thành phố di sản, bài toán lớn hơn của Quảng Ninh là làm thế nào để những giá trị ấy tham gia vào đời sống kinh tế, tạo sinh kế cho cộng đồng và hình thành nguồn lực quay trở lại phục vụ bảo tồn. Đây là quá trình cần tiên phong kiến tạo một hành lang pháp lý linh hoạt, cởi mở và mang tính dẫn dắt để biến giá trị di sản thành nguồn lực phát triển.
Trong bối cảnh chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, phát triển công nghiệp văn hóa chính là chìa khóa để Quảng Ninh tạo đột phá, gia tăng giá trị từ nguồn tài nguyên văn hóa, đồng thời tạo thêm những không gian phát triển mới cho thành phố di sản.
TS. Nguyễn Duy Thái, Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, chia sẻ: Quảng Ninh cần tiếp tục chuyển hóa tài nguyên di sản thành chuỗi sản phẩm công nghiệp văn hóa cao cấp dựa trên nền tảng công nghệ và thị trường. Theo đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để xây dựng các tour du lịch trải nghiệm số; tiếp tục thu hút các dự án điện ảnh bom tấn quốc tế, tận dụng cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ của Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Bình Liêu để xây dựng chính sách ưu đãi phim trường. Cùng với đó, định vị Quảng Ninh thành thành phố lễ hội và sự kiện nghệ thuật quốc tế thông qua nâng cấp Carnaval Hạ Long thành festival văn hóa - du lịch đường phố thường niên mang tầm vóc Đông Nam Á; phát triển kinh tế đêm gắn kết với không gian sáng tạo công cộng từ quy hoạch các tuyến phố đi bộ, chợ đêm văn hóa, không gian nghệ thuật ngoài trời tại khu vực Bãi Cháy, Tuần Châu, Hòn Gai, Vân Đồn...
Để các ý tưởng và mô hình đó có điều kiện hình thành, Quảng Ninh cần tiếp tục huy động nguồn lực xã hội, nhất là khu vực tư nhân với cơ chế hợp tác công - tư phù hợp. Thông qua xây dựng quy chế đặc thù cho phép nhượng quyền khai thác, cho thuê hạ tầng văn hóa công lập hoặc hợp tác kinh doanh có thời hạn vừa giúp giảm gánh nặng ngân sách cho công tác bảo trì, vận hành, vừa tối ưu hóa công năng công trình và gia tăng tính năng động, sáng tạo trong tổ chức sự kiện. Đồng thời, thành phố ban hành các gói hỗ trợ đặc thù dành riêng cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, dự án thuộc 12 ngành công nghiệp văn hóa bao gồm: Miễn giảm tiền thuê đất đối với các dự án xây dựng tổ hợp không gian sáng tạo, ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào di sản và hỗ trợ chi phí đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ... Cùng với nguồn lực đầu tư, cần hình thành cơ chế để một phần giá trị kinh tế tạo ra từ di sản được quay trở lại phục vụ bảo tồn, tu bổ và trao truyền.
Đi cùng với đó là bài toán về nguồn nhân lực. Thành phố di sản cần đội ngũ vừa hiểu văn hóa, vừa có năng lực tổ chức thị trường và vận hành các ngành kinh tế mới. Quảng Ninh có thể tăng cường liên kết với các cơ sở đào tạo văn hóa, nghệ thuật, kinh tế, công nghệ và doanh nghiệp để đào tạo nhân lực về quản trị công nghiệp văn hóa, sản xuất sự kiện, điện ảnh, thiết kế, bản quyền, marketing số và quản lý di sản. Đồng thời, cần có cơ chế thu hút nghệ sĩ, kiến trúc sư, nhà thiết kế, chuyên gia công nghệ đến làm việc, sáng tạo và hợp tác với cộng đồng địa phương. Một yêu cầu quan trọng khác là luôn đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển. Hiệu quả của thành phố di sản không chỉ được đo bằng lượng khách hay doanh thu, mà còn ở khả năng tạo cơ hội để người dân tham gia sáng tạo, kinh doanh, cung cấp dịch vụ và hưởng lợi từ những giá trị ngay trên quê hương mình. Nghệ nhân cần được ghi nhận và bảo đảm quyền lợi tương xứng; cộng đồng cần có tiếng nói trong việc sử dụng và khai thác di sản; người dân địa phương, nhất là thế hệ trẻ, cần được trang bị kỹ năng để trở thành những người kể chuyện, sáng tạo sản phẩm và trực tiếp tham gia vào chuỗi giá trị văn hóa - du lịch.
Với tầm vóc của một thành phố cửa ngõ hội nhập quốc tế, thước đo của kinh tế di sản không chỉ nằm ở số lượng di tích được tu bổ hay di sản được ghi danh, mà ở khả năng biến những giá trị ấy thành sản phẩm, sinh kế, nguồn thu và động lực phát triển. Khi cơ chế, nguồn lực, thị trường, cộng đồng và nhân lực được kết nối trong một hệ sinh thái phát triển đồng bộ, di sản sẽ không chỉ được bảo tồn cho hôm nay mà còn trở thành nguồn lực tạo giá trị cho tương lai, góp phần định hình một thành phố di sản Quảng Ninh giàu bản sắc, năng động và có sức cạnh tranh.