Tình quê

Trần Huy Minh Phương là nhà văn trẻ, hiện đang công tác tại Tuần báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh. Anh là tác giả thành công với thơ trước khi “lấn sân” sang địa hạt truyện ngắn. Truyện của Trần Huy Minh Phương có đặc điểm chung là không cầu kỳ trong cấu tứ, hành văn nhưng lại hấp dẫn ở chỗ ấm áp tình người, man mác buồn với “điệu hồn phương Nam” phả vào trong từng câu chữ. Truyện ngắn “Tình quê” mà chúng tôi giới thiệu với bạn đọc trong số này là một ví dụ...

Gió vẫn lồng lộng thổi. Con bìm bịp ngoài kia vẫn kêu nước lớn nước ròng, cho bao mùa phù sa bồi bãi nơi nầy. Bà Hai thôi nhai trầu, từ nhà nhìn xa xăm theo con sóng dồn đuổi, rồi nói bâng quơ bên chiếc chõng tre: “Thế là con Thơm sắp lấy chồng Đài Loan…”.

Út Huệ ngồi may gần đó, dừng tay hỏi: “Thiệt hả nội?”. Bà Hai không trả lời, mà lầm bầm: “Nghe đâu ngày mốt nầy bên đàng trai rước nó qua bển”. “À, mà chị Thơm đã biết nói tiếng Tây tiếng Tàu gì đâu” - Út Huệ tiếp lời.

Bà Hai têm thêm lá trầu mới, miệng nhai bỏm bẻm, chép miệng, phun bã trầu cái phẹt xuống nền đất đã mun mượt như màu tóc của con gái xuân thì, rồi chậm rãi nói như cho chính mình nghe, nói như đang thầm thì cùng cái đất cồn xanh mía, xanh khoai nầy vậy: “Cùng quê, cùng xứ cái nhìn nhau thôi cũng hiểu, cũng dễ ưng, đằng nầy nó vì cái cảnh nhà túng bấn… mà thôi…”.

Bà Hai như nghẹn giọng. Bụi chuối sau hè cứ lao xao trong gió, yên ắng lạ. Cái xóm Rạch nầy đã có bao nhiêu người đành vắt lòng mình xa nó, nghĩ mà thương. Út Huệ nao lòng. Cô vừa đạp máy may nốt đường chỉ cái bâu áo cho cu Hậu vừa nghĩ mông lung: “Ngộ nghe! Riết rồi cái đất nầy chỉ còn bà già với con nít dòm nhau, kể chuyện hồi xưa đánh Tây, đánh Mỹ, đập muỗi về chiều cho đỡ buồn. Ừ, mấy chị em bạn gái bây giờ thì hướng ngoại nhiều hơn, sao vậy ta…”. Bông bần rụng trắng bên sông, còn ai thương nhớ người dưng qua màu trắng sóng sánh ấy.

Chiều mênh mang con nắng, im lặng ùa vào trong căn nhà lụp xụp có hai bà cháu. Nhịp sống hằng thường vẫn cứ lặng lẽ trôi. Hai người, một già một trẻ miên man trong suy ngẫm. Và lại nhớ...
*
Lúc ông nội còn sống, út Huệ luôn quấn lấy chân ông mà nghe kể về cái thời xa xưa ấy một cách háo hức, rồi những câu chuyện của ông nội mọc rễ và tươi xanh trong lòng Huệ tự lúc nào cũng hổng biết. Bên sông gió vẫn thổi. Tuổi người thêm cằn cỗi. Giồng khoai, luống mía vẫn xanh. Có lần, út Huệ được nghe ông kể về mối tình của ông với bà. Thích lắm. Và bao giờ cũng vậy, trước khi nhắc lại điều gì đó từ sâu thẳm thì động tác vấn điếu thuốc gò của ông lúc ấy mới gợi hồn và xao xuyến xiết bao. Từng sợi khói phả vào khoảng không, vẽ ra một sắc màu huyền bí hệt như trong cổ tích vậy! Ông trầm ngâm và bắt đầu giọng kể:

- Hồi “chín năm”, nội bây trở dạ rồi sanh ra ba mầy. Chậc, mà phải kể từ đầu chứ. À, năm bốn lăm, tao với bà nội bây có dịp được chuyển công tác chung đơn vị. Bả bên hậu cần. Nội con nấu ăn thì ngon phải biết đó. Nhắc tới giờ còn mắc thèm và thương quá sá cái đợt đơn vị đang ăn mà bị địch nã đạn làm văng tung toé thức ăn đậm tình đất, tình người xứ mình con ạ! Nước ngoài sông đỏ đục phù sa đã chứng kiến không biết bao lần cái cảnh cô hai Mận (bà nội của út Huệ bây giờ) gánh nước. Chà, nhiều anh em trong đơn vị tập làm thi sĩ, cứ là chết mê chết mệt, nhưng trong đám ấy chỉ có ông là lọt vào “mắt xanh” của cô Mận. Mà hai đứa có nói tiếng thương, lời nhớ gì đâu, chỉ có cái lược gỗ mà buộc tình ông bà nội bây tới giờ.

Dừng giây lát, rít một hơi thuốc, nheo nheo đôi mắt ngó mông lung rồi ông nội kể tiếp:

- Đêm đó, đơn vị ông chuẩn bị đánh địch. Vượt sông Hậu con ạ. Đêm tịch mịch. Trước khi chia tay cô hai Mận, chiều đó ông chỉ kịp tặng cho cổ cái lược do chính tay ông làm, cũng nói được một câu: “Cô hai ở lại khoẻ… nếu có ngày về… tôi nhất định… sẽ - tìm - cô!”. Bẵng một thời gian ông và bà không nối liên lạc được, chiến tranh đang hồi đi vào nước rút. Nhưng chiếc lược gỗ vẫn nâu bóng một tình yêu thầm tin ngày về. Rồi anh Quảng - thủ trưởng đơn vị - đã đích thân se duyên làm rình rang đám cưới cho ông bà nội bây tại khu căn cứ rừng tràm. Nhớ lại thấy sống - chết chỉ là lằn ranh của sợi tóc nhưng mà vẫn vô tư, sống hết mình, yêu son sắt, lòng người chân chất, nghĩ đến tập thể là trên hết. Ờ, mà bây làm gì ở đó ngồi thừ ra nghe ông kể rồi tròn mắt nhìn ngộ hà!

Mãi nghĩ từ nãy giờ, út Huệ chăm chăm nhìn vào bàn thờ ông nội và tấm bằng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Gió bên sông thổi lên ngút ngát. Bỗng, có tiếng ho khục khặc của bà hai và sau đó là lời càu nhàu:

- Tao nghe như khét cơm thì phải. Mày làm cái gì mà ngớ người ra vậy hả, Huệ?

- Ối!… chết cha… cơm khét rồi, để con hạ lửa.

- Con cái già đầu rồi mà cơm nấu cũng không xong, dễ sau nầy mà gặp thằng chồng ôn dịch nó đánh cho bờm đầu…

- Hên quá! Cơm sắp khét chứ chưa khét đâu nội ơi! À, bộ chú tư Nghĩa chịu gả chị Thơm cho cái ông sồn sồn nói tiếng xì xồ xì xộp thiệt hả nội?

Bà hai gắt giọng:

- Giờ thì còn thiệt với không thiệt gì nữa. Xong rồi.

Đoạn, bà hai móc trong túi áo bà ba ra cái lược gỗ gợn màu nhẵn bóng thời gian. Gió vô tình hay sợi tóc vô tình, dăm ba sợi bạc theo ngọn lược chải xoãi ra, cong mình và rơi lả tả. Im lặng.

Chiều xuống đầy.

*

Nhà chú tư Nghĩa cách nhà út Huệ có hai cái mương, phóng vài bước chân là tới. Chòm xóm có nhau í ới niềm vui nỗi buồn. Thơm là con gái lớn của chú tư Nghĩa, năm nay vừa tròn đôi mươi. Thơm có chút chữ nhưng lâu rồi không xài nên có chữ nhớ, có chữ quên. Thơm được một mớ nhan sắc, với lại cái giọng nói ngọt như đường phèn, mát như nước dừa xiêm, tánh vốn hay lam hay làm, mọi người trong xóm Rạch nầy mến chị lắm. Chỉ tội cho Hoành, thầm thương trộm nhớ người ta mà không dám nói. Cơ hội nhiều lần bị trôi tuột, lăn mãi trên bờ kênh, mà Thơm nào hay biết có gã khờ ngồi dưới bóng trăng đêm đêm trải khúc tương tư hát điệu xàng xê...

Đùng cái chú tư Nghĩa bắt Thơm gả cho ông ngoại quốc đáng tuổi cha chú. Sau Thơm còn đến sáu đứa nhóc. Nhà chỉ có dăm công đất thì có thấm tháp vào đâu khi sức ăn con trẻ đang hồi háo đói. Mới tháng rồi ở xóm trên, ông bảy Hận vừa gả con Luyến cho một ông béo ục người Hàn Quốc. Thế rồi, căn nhà lụp xụp của ông bảy Hận chỉ một loáng đã đường hoàng lên lầu hai, điện sáng trưng, bọn con nít cứ xúm xít trước sân ông Bảy chơi keng, chơi lò cò. Hàng xóm sang chơi chép miệng khen ông bảy giàu giữa cái xóm chơ vơ gió.

Thơm không nói gì, ngày về nhà chồng chị nghẽn dòng nước mắt cái hôm xe bốn bánh bóng nhoáng đỗ trước nhà. Ông chồng tương lai đi từng bước chậm trong bộ đồ Tây ôm không khít với khổ người núc ních của ông. Gã cười hềnh hệch với cha vợ, tay đưa tay bắt, ông ta dúi vào tay chú Tư Nghĩa một xấp bạc dày và thơm đến đắng lòng. Út Huệ kịp vẫy vẫy tay gọi với theo chị Thơm khi xe sắp chuyển bánh:

- Chị đi, lâu lâu nhớ về quê thăm nhá… Vài năm nữa quê mình có điện hết rồi. À, bông so đũa mùa nầy nấu canh ăn ngon lắm!

Không biết chị Thơm có nghe hết lời của út Huệ nói không, chỉ thấy vọng lại là vệt khói đen sì và hơi bụi nồng cay. Út Huệ đứng lặng nhìn ra bờ sông vẫy gió.

Đợt nghỉ Tết nầy đối với Huệ là cả một xâu chuỗi khắc khoải. Khi người ta biết lo và hay nghĩ ngợi thì cái tuổi mộng, tuổi mơ, cái ngày thơ dần dà bị mòn vẹt. Sau một tuần nữa là út Huệ lại tiếp tục là cô nữ sinh Trường Đại học Kinh tế ngoại thương năm cuối. Huệ nghĩ: “Phải chăng đồng tiền, chính đồng tiền đã làm nên lời ru buồn thê thiết bên bờ sông và hàng bần trở nên trơ trụi giữa dòng yêu sần sùi? Trăng thì đẹp mà xa quá. Đèn điện thành phố thì sáng choang hỏi ai không say lòng…”.

Con bìm bịp chiều xuân vẫn kêu như bao đời vẫn thế, và con nước thì lớn rồi ròng, bông bần rụng trắng loang sóng sánh trên mặt sông, gió vẫn xô sóng vào bờ, nhẹ trôi, nhẹ một dòng trôi. Ừ, mai vàng đang gọi nắng. Ngày mai trời vẫn còn xuân mà!

Huỳnh Đăng (giới thiệu)
Truyện ngắn của Trần Huy Minh Phương

Cùng chuyên mục