TKV đảm bảo vận hành hiệu quả các trạm xử lý nước thải mỏ

Trong những năm gần đây, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã liên tục đầu tư nâng cấp hệ thống xử lý nước thải mỏ, mở rộng công suất các trạm, ứng dụng công nghệ tự động hóa và hoàn thiện quy trình quản lý nước thải sau xử lý. Những đổi mới này không chỉ đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cao, mà còn phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xanh của tỉnh Quảng Ninh và chiến lược tăng trưởng xanh của Chính phủ.

Tại Trạm xử lý nước thải mỏ Núi Nhện (giai đoạn 2) của Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV ở Cẩm Phả, những dòng nước màu vàng nâu từ khai trường liên tục được dẫn về hệ thống xử lý. Qua các công đoạn trung hòa, keo tụ, tạo bông, lắng, lọc và khử mangan, nước chuyển dần sang trạng thái trong sạch trước khi được kiểm tra chất lượng và xả ra môi trường.

Hệ thống xử lý nước thải mỏ tại Trạm xử lý nước thải Núi Nhện (giai đoạn 2) của Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV.
Hệ thống xử lý nước thải mỏ tại Trạm xử lý nước thải Núi Nhện (giai đoạn 2) của Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV.

Trong phòng điều khiển trung tâm, hệ thống SCADA hiển thị đầy đủ các thông số về lưu lượng, độ pH, độ đục, hàm lượng chất rắn lơ lửng, cùng tình trạng hoạt động của từng thiết bị. Khác với trước đây khi nhiều thao tác vận hành phụ thuộc vào kinh nghiệm của người lao động, nay việc điều khiển các trạm xử lý đã dựa trên dữ liệu thời gian thực. Công nghệ số giúp tối ưu lượng hóa chất sử dụng, giảm tiêu hao điện năng, đồng thời bảo đảm nước sau xử lý luôn đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường.

Hiện nay, toàn Tập đoàn có 50 trạm xử lý nước thải mỏ than với tổng công suất thiết kế trên 38.000m³/giờ. Hằng năm, các trạm này xử lý khoảng 135-150 triệu m³ nước thải mỏ, bảo đảm nước sau xử lý đạt quy chuẩn môi trường trước khi xả thải. Đối với các đơn vị sản xuất than, hệ thống xử lý nước thải không chỉ phục vụ công tác bảo vệ môi trường, mà còn là một phần quan trọng trong quá trình tổ chức sản xuất.

Tại Công ty Than Hòn Gai, nước từ các khai trường và khu vực sản xuất được thu gom qua hệ thống mương dẫn, hồ điều hòa trước khi chuyển về các trạm xử lý do Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV quản lý, vận hành. Hai đơn vị duy trì cơ chế phối hợp thường xuyên trong kiểm tra hệ thống thu gom, điều tiết lưu lượng và xử lý những tình huống phát sinh khi mưa lớn, hoặc lưu lượng nước tăng đột biến.

Hệ thống xử lý nước thải mỏ tại Công ty Than Hòn Gai, do Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV quản lý, vận hành.
Hệ thống xử lý nước thải mỏ tại Công ty Than Hòn Gai, do Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV quản lý, vận hành.

Ông Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Công ty Than Hòn Gai, cho biết: Việc có đơn vị chuyên trách quản lý hệ thống xử lý nước thải giúp doanh nghiệp tập trung nguồn lực cho sản xuất, đồng thời bảo đảm các yêu cầu về môi trường được thực hiện bài bản, chuyên nghiệp. Trong điều kiện khai thác ngày càng xuống sâu, lượng nước phát sinh lớn hơn, sự phối hợp giữa đơn vị khai thác và đơn vị môi trường trở thành yếu tố quan trọng để vừa duy trì sản xuất ổn định, vừa thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường.

Một điểm nổi bật trong công tác xử lý nước thải của TKV là việc lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp với đặc điểm nước thải mỏ than. Nước thải mỏ thường có tính axít do các hợp chất chứa lưu huỳnh trong than phản ứng với ôxy trong không khí sau khi khai thác, đồng thời chứa hàm lượng cao chất rắn lơ lửng, sắt và mangan. Vì vậy, các trạm xử lý nước thải được thiết kế với các công đoạn chính gồm trung hòa, keo tụ, lắng và khử mangan.

Trong công đoạn trung hòa, các hóa chất như vôi bột CaO, dung dịch Ca(OH)₂ dạng sữa vôi và xút NaOH được sử dụng để điều chỉnh độ pH của nước thải. Sau đó, quá trình keo tụ với hóa chất PAC kết hợp chất trợ lắng PAM giúp tạo bông cặn, tăng kích thước hạt cặn để nâng cao hiệu quả lắng. Tùy theo đặc điểm từng trạm, quá trình lắng có thể thực hiện bằng lắng ngang tự nhiên hoặc lắng lamella với tấm lắng nghiêng để tăng hiệu quả tách cặn. Công đoạn khử mangan được thực hiện bằng các thiết bị như bình lọc áp lực, thiết bị lọc chứa cát mangan hoặc bể lọc bê tông cốt thép có chứa cát lọc mangan.

Cùng với đổi mới công nghệ xử lý nước, TKV cũng chú trọng hoàn thiện công tác xử lý bùn thải phát sinh từ quá trình lắng và lọc mangan. Trước đây, bùn thải thường được xử lý bằng bể lọc bùn, hoặc sân phơi bùn, song các giải pháp này đòi hỏi diện tích lớn và phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Hiện nay, nhiều trạm xử lý nước thải đã được đầu tư hệ thống ép bùn công suất lớn, sử dụng máy ép trục vít, máy ly tâm hoặc máy ép khung bản.

Ông Trần Hòa, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV, cho biết: Sau quá trình ép, độ ẩm của bùn giảm đáng kể, thể tích thu nhỏ, thuận lợi cho vận chuyển và đổ thải. Các hồ chứa bùn được giảm tải, hạn chế nguy cơ phát tán thứ cấp, giảm diện tích đất sử dụng cho lưu chứa và tiết kiệm chi phí quản lý lâu dài. Quan trọng hơn, đây là bước hoàn thiện chu trình xử lý nước thải theo hướng khép kín, từ thu gom nước, xử lý nước đến quản lý chất thải phát sinh sau xử lý.

Cùng chuyên mục