Vũ Xuân Hồng - Người về lối cũ

Là bác sĩ lấn sân sang địa hạt văn chương để làm thơ, nhưng Vũ Xuân Hồng, bác sĩ chuyên khoa cấp 1, Trưởng Phòng khám Đa khoa khu vực Mạo Khê, Bệnh viện Đa khoa TX Đông Triều càng đi càng vững bước. Dù rất bận bịu với công việc chuyên môn của một bác sĩ và công việc quản lý nhưng hễ cứ có phút nào thảnh thơi là anh lại dành hết cho thơ. Thơ anh dường như ngày càng có độ chín hơn, bài sau hay hơn bài trước. Tập sau chững chạc hơn tập trước rất nhiều.

Trang bìa tập thơ.
Trang bìa tập thơ.

Tôi nhận ra điều đó mỗi khi nâng niu tập thơ mới của ông mang tên “Khúc đồng dao quê mùa” do NXB Hội Nhà văn ấn hành cuối năm 2015. Còn ông thì khiêm tốn bảo, âu cũng là lên đường với một sự thể nghiệm mới. Và cứ đi, đi lên đường đi thể nào cũng tìm được vài bài thôi, thậm chí vài câu thành công thôi với người làm thơ đó cũng là hạnh phúc lắm rồi.

Với Vũ Xuân Hồng làm thơ không gì khác hơn là tìm về hồn quê, hồn làng để vượt thoát quy luật sàng lọc của thời gian như ông đã từng viết: “Ta về nép bóng cổng làng/ Nghe thời gian chảy tím hàng rêu phong” (Ta về - Xẩm chợ quê).

Vũ Xuân Hồng tìm về với mạch nguồn dân gian là một hướng đi đúng đắn. Nó hợp với cái tạng thơ của ông: “Phúc phần tôi nhận ra tôi/ Từ trong nguồn cội xa xôi hồn làng” (Đi tìm). Thực ra, điều này đã được thể hiện ngay ở tập thơ đầu tay của ông. Càng về sau đến “Cây đa phố làng”, “Xẩm chợ quê”, “Khúc đồng dao quê mùa” điều đó càng hiện ra rõ nét: “Nặng tình với khúc đồng dao/ Nửa đêm tiếng cuốc nao nao gọi mình” (Khúc đồng dao quê mùa). Tiếng cuốc trong cảm nhận của Vũ Xuân Hồng là tiếng gọi của ký ức đồng quê, tiếng lòng thương nhớ đồng quê. Tiếng cuốc muôn đời vẫn thế chỉ có cảm nhận của người nghe là khác thôi mà. Cái nao nao trên kia không còn là cái nao nao của loài chim nhạy cảm mà là cái nao lòng của nhân vật trữ tình.

Đông Triều, nơi ông cư trú, giờ đã lên thị xã với tốc độ đô thị hoá ngày một nhanh hơn. Nhưng có một Vũ Xuân Hồng là người quê ở phố. Có lẽ cái nhịp sống thị thành không thể “phố hoá” tâm hồn ông. Trong ông cái hồn quê yên ả vẫn chiến thắng cái phồn tạp phố phường: “Về quê tìm lại chính mình/ Bỗng dưng thương cánh lục bình trôi xuôi (Tháng Ba). Cơn lốc phố hoá cùng lắm cũng chỉ làm mất đi, chỉ gặm nhấm được đất quê chứ không cuốn được cái hồn quê. Tìm về hồn quê, câu thơ Vũ Xuân Hồng trở nên mượt mà hơn: “Gọi nhau lũ lượt trẻ con/ Chơi trò rồng rắn chạy mòn vạt đê” (Phồn thực). Có nhiều bài thơ của Vũ Xuân Hồng nếu bắt gặp không phải trong tập này, người xuê xoa dễ tính chắc đã lầm tưởng mình đang đọc ca dao: “Đêm nay trăng sáng ngõ rào/ Có đôi trai gái vướng vào tơ duyên” (Chuyện trầu cau). Cuộc hành trình về với lối cũ ca dao mà Vũ Xuân Hồng đang dấn bước cũng là đi tìm con người nhà quê của chính mình: “Chợt nghe hoa cỏ tần ngần/ Vạt đê lại ấm dấu chân thuở nào” (Tìm về).

Tuy nhiên, cũng không phải vì thế mà nghĩ thơ ông trôi tuột đi theo cái vần điệu êm đềm. Thơ Vũ Xuân Hồng đã tìm được bến bờ để neo lại như chiếc áo mặn mùi mồ hôi của người thôn quê đã tìm ra chiếc đinh để treo lên tường. Chiếc mo cau chẳng là gì cả nếu không gắn với lời hát ru của mẹ: “Mo cau ấp nụ cau non/ Vẳng trong câu hát ru con đêm trường” (Mo cau).

Trên hành trình chạy đường trường, người có sức mới giữ được bước chạy để về đích. Vũ Xuân Hồng tỏ ra không hề đuối sức. Không phải người “buôn chữ” nhưng cái vốn liếng mà ông có được là thứ vốn dài hạn. Vốn ấy được tạo ra từ sự tích cóp hồn quê, hương đất lên men trong tầm văn hoá, học vấn để chưng cất ra thơ ca.

Ngoài đời, Vũ Xuân Hồng là một bác sĩ, là một nhà quản lý chỉn chu, cẩn trọng. Ấy vậy khi đến với thơ ca, ông lại như “lên đồng” với con chữ. Thơ với ông không chỉ là niềm đam mê khó bỏ mà nó như một thứ tôn giáo rất riêng. Trong “thánh đường thơ ca” của chính mình, ông là một “con chiên” rất ngoan đạo. Tuy nhiên thánh đường không xa lạ mà bình dị giữa cõi đời, giữa làng quê thanh bình. Nó là một kiến trúc rất Á Đông vì được kiến trúc chủ yếu nhờ lục bát. Điều đó cũng thật dễ hiểu bởi nội dung nói trên cần được chuyển tải bằng một hình thức tương xứng, phù hợp. Và có lẽ không có gì hợp hơn là lục bát. Lục bát của Vũ Xuân Hồng khi êm đềm phẳng lặng khi lại cuộn trào đầy suy tư: “Nhớ hôm em bước theo chồng/ Heo may thổi héo cánh đồng đơn côi” (Thất tình).

Nhưng dù thế nào đi nữa, ở vào trạng thái nào thì lục bát vẫn trong sáng đủ để bạn đọc như đứng trên bờ hồ thoả sức ngắm nhìn làn nước xanh trong. Đó là giọng điệu lục bát dễ cảm, dễ mến, dễ chinh phục những tâm hồn đồng điệu. Xúc động hơn cả là những câu viết về người mẹ: “Bao nhiêu giông bão đi qua/ Lưng mẹ còng xuống nâng ta lớn dần” (Quê nhà). Hay như cái cảm nhận tinh tế nhìn ra sự chuyển hoá tinh vi sau đây cũng xuất phát từ hình ảnh người mẹ tảo tần: “Mẹ ta kho tép lá chanh/ Để làn khói bếp hoá thành hồn quê” (Quê hương).

Lục bát của Vũ Xuân Hồng sử dụng một mật độ đậm đặc những thi liệu, thi tứ dân gian nên tạo được sự gần gũi: Trầu cau, cây đa giếng nước, sân đình, ao sen, chuồn chuồn, châu chấu, cào cào: “Đò đông có kẻ thẫn thờ/ Cô đơn con sóng đôi bờ khát nhau” (Thất tình). Vũ Xuân Hồng còn làm mới lục bát bằng cách đưa vào những tiếng chêm xen đưa đẩy của hát chèo. Đôi chỗ, lục bát của Vũ Xuân Hồng phá bỏ lối ngắt nhịp chẵn đều đặn để tuân theo nhịp điệu của cảm xúc, của con tim.

Huỳnh Đăng

Cùng chuyên mục