Trong thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đã góp phần quan trọng trong chiến thắng chung. Phát huy truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm", người Vùng mỏ đã đoàn kết vừa sản xuất vừa chiến đấu vừa chi viện hết mình cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Chi viện cho chiến trường miền Nam
Ngay sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, chính quyền và các lực lượng vũ trang Khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh được giao trọng trách tiếp quản khu mỏ, ổn định tình hình ở một vùng kinh tế, chính trị đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh việc dụ dỗ người vào Nam, đế quốc Mỹ còn tung gián điệp ra Vùng mỏ nhằm phá hoại hậu phương miền Bắc.
Trong giai đoạn này, người Vùng mỏ đã kiên cường đấu tranh lập nên nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc, nổi bật là việc phát hiện, đấu tranh và triệt phá hàng chục vụ án gián điệp, biệt kích do Mỹ - Ngụy cài cắm. Chỉ tính từ năm 1960-1963, lực lượng công an đã triệt phá 7 vụ, bắt giữ 71 tên gián điệp biệt kích hoạt động tại khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh.
Sau khi tỉnh Quảng Ninh được thành lập (tháng 10/1963), công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đang trên đà phát triển thì cùng với miền Bắc, quân và dân Quảng Ninh phải bước vào một giai đoạn mới: Chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc và chi viện sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quảng Ninh vốn là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng và nằm ở địa bàn chiến lược với bờ biển rộng nên đã trở thành một điển hình tiêu biểu trong chống chiến tranh phá hoại và chi viện cho chiến trường.
Không lâu sau Chiến thắng trận đầu 5/8/1964, đã có gần 30 nghìn thanh niên Quảng Ninh làm đơn tình nguyện lên đường chiến đấu với tinh thần "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, có hơn 120 nghìn lượt thanh niên chi viện cho chiến trường miền Nam, được bổ sung, biên chế vào nhiều đơn vị, trong đó có các đơn vị thuộc Quân khu Đông Bắc, Quân khu Tả Ngạn và các sư đoàn 308, 312, 320.
Tính riêng tháng 3/1975, Quảng Ninh là 1 trong 2 tỉnh hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu tuyển quân và đã được Quân khu và Chính phủ biểu dương.
Trong 21 năm trường kỳ kháng chiến, hàng chục vạn con em thanh niên Vùng mỏ đã hăng hái lên đường nhập ngũ, có người đã viết đơn xung phong bằng cả máu của mình. Hàng ngàn thanh niên trực tiếp chiến đấu tại các chiến trường ác liệt. Hơn 16 nghìn thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, dân quân tự vệ "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước mà lòng phơi phới dậy tương lai" làm nhiệm vụ cứu thương, tải đạn, hỗ trợ chiến đấu... Quảng Ninh cũng có trên 200 cán bộ công an tình nguyện vào Nam, hơn 80 chiến sĩ tham gia vào đoàn tàu không số xuất phát từ Vịnh Hạ Long chở hàng nghìn tấn vũ khí lương thực và hàng trăm cán bộ bí mật vào Nam.
Đặc biệt, trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, ngành Than đã dốc toàn lực vừa sản xuất, vừa bảo vệ khu mỏ và sẵn sàng đánh bại các cuộc chiến tranh phá hoại của địch; góp phần vào thắng lợi của cả nước, giải phóng miền Nam. Tháng 8/1965, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Tổng Công ty Than Quảng Ninh. Ngay trong năm, Đảng ủy Tổng Công ty đã họp hội nghị quyết định phương hướng sản xuất và chiến đấu của Tổng công ty trong tình hình mới; từ đó chỉ đạo xuyên suốt quá trình sản xuất và chiến đấu của ngành Than.
Tháng 7/1967, ngành Than và tỉnh Quảng Ninh đã huy động hơn 2.000 thanh niên ưu tú để chi viện cho chiến trường miền Nam dưới tên gọi là Binh đoàn Than. Binh đoàn Than là tên gọi chung của ba đơn vị: Tiểu đoàn 385, Tiểu đoàn 386 và Tiểu đoàn 9. Đây không phải là phiên hiệu chính thức trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng đã đi vào lịch sử như một huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, để lại niềm tự hào cho cả thế hệ thanh niên Vùng mỏ. Sự ra đời của Binh đoàn Than năm 1967 là biểu tượng tinh thần của thanh niên Vùng mỏ. Với hành trang là nhiệt huyết tuổi trẻ như ngọn lửa than rực cháy, những chiến sĩ Binh đoàn Than đã cống hiến tuổi thanh xuân của mình để góp phần cho đất nước có một mùa xuân sum họp, Bắc Nam một nhà…
Ông Bùi Duy Thinh, từng là chiến sĩ Tiểu đoàn 386, Binh đoàn Than, là một trong số ít người Quảng Ninh có mặt trong Đại thắng mùa Xuân 1975. Ông Thinh kể, đúng 6 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, đơn vị của ông đã có mặt ở ngã tư Bảy Hiền Sài Gòn, tiến công rồi đánh chiếm Trường hạ sĩ quan Ngụy, đánh chiếm trụ sở Bộ Tổng tham mưu Ngụy. Ông Thinh có mặt ở trụ sở Bộ Tổng tham mưu Ngụy quân chứng kiến giờ phút lịch sử Sài Gòn được giải phóng.
Ông Thinh hồi tưởng: "Lúc đó tôi vui đến trào nước mắt khi mình đã vượt qua một chặng đường gian khổ, chiến đấu vì độc lập của Tổ quốc, lại nhớ thương những đồng đội nằm lại chiến trường không thể chứng kiến thời khắc thống nhất. Hiện nay, theo thống kê chưa đầy đủ, Binh đoàn Than có trên 1.000 liệt sĩ. Đặc biệt, có người ngã xuống ngay trên đường tiến công vào cửa ngõ Sài Gòn".
Cùng với việc chi viện sức người, Quảng Ninh đã cung cấp khoảng 50 triệu tấn than phục vụ sự nghiệp kháng chiến. Tỉnh còn cung cấp hàng vạn tấn lương thực, rau xanh, thịt, trứng cho đất nước. Sản lượng lương thực năm 1966 tăng lên gấp 2,5 lần so với năm 1955. Giai đoạn 1964-1968, huyện Móng Cái huy động 16 thuyền buồm và 20 thuyền máy vận chuyển 1.859 tấn lương thực, huyện Yên Hưng huy động phương tiện chở 91 cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và 500 tấn lương thực vào Nam. Trong 2 năm 1974 -1975, Quảng Ninh đã cung cấp 1 vạn tấn lương thực, 13,5 nghìn tấn rau xanh, 6 triệu quả trứng và 4.500 tấn thịt lợn đưa vào chiến trường.
Chia lửa cho tiền tuyến
Cuộc kháng chiến chống Mỹ không chỉ ác liệt ở tiền tuyến mà còn diễn ra ngay cả ở hậu phương. Ở Vùng mỏ, người Quảng Ninh vừa sản xuất vừa chiến đấu chống lại một lượng bom đạn khổng lồ. Tính chung, trong 8 năm chiến tranh phá hoại, giặc Mỹ đã dùng 8.000 lượt máy bay, ném gần 25.000 quả bom các loại vào các nhà máy, hầm mỏ, bệnh xá, trường học, khu dân cư trên địa bàn tỉnh…
Đối phó với chiến tranh phá hoại, người Quảng Ninh chiến đấu ngoan cường, giăng các lưới lửa phòng không, trận địa tự vệ. Mỗi người Quảng Ninh khi đó đều là một chiến sĩ, mỗi nhà máy xí nghiệp, ruộng đồng làng quê là một trận địa, một pháo đài. Ông Hoàng Tuấn Dương, nguyên Trưởng Ban Tuyên giáo Đảng ủy Than Quảng Ninh, xúc động nhớ lại: "Bấy giờ, công tác sơ tán được tiến hành khẩn trương; máy móc, thiết bị, vật tư được vận chuyển rời khỏi khu vực trọng điểm đánh phá của địch đến nơi sơ tán, vào hang đá để cất giấu và duy trì sản xuất. Tôi còn nhớ Nhà máy cơ khí Cẩm Phả đã di chuyển an toàn toàn bộ nhà máy lên hang đá cây số 5 (Cẩm Phả) bảo đảm cho hơn 1.000 cán bộ, công nhân viên làm việc 3 ca liên tục, máy móc hoạt động bình thường, bảo đảm sản xuất an toàn trong mọi tình huống ngày cũng như đêm, trở thành “pháo đài thép” của vùng Than Quảng Ninh".
Trong hoàn cảnh đó, lực lượng dân quân tự vệ được tổ chức, củng cố rộng khắp tại các địa phương, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ và cảng biển. Tỉnh đội Quảng Ninh chỉ đạo xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, làng xã chiến đấu, các trận địa phòng không và phát triển các tổ, đội dân quân tự vệ làm nhiệm vụ trực chiến.
Tổng số quân tự vệ ngành Than năm 1967 lên đến gần 10 nghìn người chiếm 41% lực lượng lao động toàn ngành. Những chiến sĩ tự vệ Nhà sàng Cửa Ông không chỉ chiến đấu như những người lính thực thụ, mà còn sản xuất như những người thợ thực thụ. Họ đã biến Nhà sàng thành pháo đài kiên cố, nơi bom đạn kẻ thù không thể khuất phục được tinh thần của thợ mỏ.
Năm 1968, lực lượng dân quân tự vệ toàn tỉnh lên đến hơn 10 nghìn người. Toàn tỉnh có 92 trung đội nữ dân quân tự vệ. Không chỉ chiến đấu ở Vùng mỏ, hàng nghìn người trong lực lượng tự vệ đã xung phong nhập ngũ chi viện cho chiến trường. Cũng vào năm 1968, sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, tổng số thanh niên nhập ngũ toàn tỉnh gấp 3 lần so với 1 năm trước đó. Đến năm 1972, tỉnh Quảng Ninh tuyển quân 3 đợt, có tới 60% thanh niên nhập ngũ vào Nam là dân quân tự vệ.
Nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quân và dân Quảng Ninh đã chiến đấu anh dũng, bắn rơi 200 máy bay Mỹ, bắn cháy, bắn hỏng nhiều tàu chiến, bắt sống 10 giặc lái. Những đóng góp to lớn đó đã góp phần hoàn thành 2 nhiệm vụ chiến lược vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc vừa chi viện cho miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước, góp phần cùng cả nước làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Như vậy, cuộc chiến ở Quảng Ninh không chỉ diễn ra trên bầu trời hay tại các nhà máy, hầm mỏ, mà còn là cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền và sự ổn định của cả vùng Đông Bắc của Tổ quốc. Đóng góp của quân và dân Quảng Ninh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ không chỉ được đo bằng số trận đánh, số máy bay bị bắn rơi hay số người ra trận, mà trước hết được thể hiện ở việc một địa bàn vừa là trọng điểm đánh phá, vừa là trung tâm công nghiệp của miền Bắc vẫn đứng vững, duy trì sản xuất, bảo vệ hậu phương và không ngừng chi viện cho tiền tuyến miền Nam.
Ghi nhận những đóng góp của quân và dân Quảng Ninh, nhiều tập thể, cá nhân đã được tuyên dương danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Dũng sĩ diệt xe tăng, xe cơ giới", được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND. Tỉnh Quảng Ninh được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất (năm 1968), Huân chương Độc lập hạng Nhì (năm 1973) và nhiều phần thưởng cao quý khác.