Xung quanh những di vật của đền Xã Tắc

Thành phố địa đầu Móng Cái hiện có nhiều đình, đền, chùa, miếu có giá trị, được xem như là những “cột mốc văn hoá” vùng biên giới, như đình Trà Cổ, chùa Xuân Lan, Nam Thọ, đền Xã Tắc... Với giá trị về nhiều mặt, các di tích này cũng lưu giữ dấu ấn văn hoá người Việt trong lịch sử trấn yên bờ cõi của cha ông ta, nay đều trở thành điểm đến của du khách khi về với Móng Cái.

Di vật còn lại không nhiều

Đền Xã Tắc đã được công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia. Ảnh: Chu Linh
Đền Xã Tắc đã được công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia. Ảnh: Chu Linh

Trong số đó, đền Xã Tắc có lẽ là bị phá huỷ nhiều nhất cho tới ngày nay mà lần gần nhất là năm 1979. Cách đây khoảng chục năm, khi chúng tôi vào tham quan đền, việc xây dựng lại công trình mới đang xúc tiến thì đền cũ vẫn còn được giữ lại, chỉ là những gian nhà tạm, việc thờ tự bố trí cũng khá lộn xộn. Nay thì công trình mới khang trang đã được dựng lên, công trình cũ cũng hoá giải đi. Các hiện vật gốc thuộc về di tích còn khá ít ỏi vẫn được giữ lại, để trong hậu cung đền hiện nay, qua khảo cứu của các nhà khoa học gần đây đã tiếp tục làm rõ về giá trị, tính chất của di tích đền Xã Tắc.

Bài vị thờ Xã Tắc Đại vương - di vật gốc hiện còn tại đền Xã Tắc.
Bài vị thờ Xã Tắc Đại vương - di vật gốc hiện còn tại đền Xã Tắc.

Ông Kiều Đinh Sơn, Giám đốc Bảo tàng Quảng Ninh, chia sẻ: Quá trình xây dựng đền hiện nay, toàn bộ khuôn viên đền đã được tôn cao, nên về cơ bản lớp đất mặt của đền đã bị phủ đè, không tìm thấy các di vật. Qua khảo sát của chúng tôi tại di tích chỉ còn 6 bia đá (3 bài vị để thờ và 3 bia ký), 2 thành bậc được tìm thấy mà thôi. Các hiện vật này đều được làm bằng sa thạch, màu nâu, khác với loại sa thạch thường dùng chế tác chân kê cột thời Lý, Trần, có thể là được khai thác tại địa phương.

Ông Sơn cho hay, các thành bậc là minh chứng cho thấy ở đây có công trình kiến trúc có nền cao hơn so với mặt đất xung quanh. Còn nội dung các bia ký ghi chép lại việc trùng tu và danh tính những người phát tâm công đức tiền bạc, công sức tu sửa lại đền trong các năm Kỷ Mão và Tân Tỵ.

Chắp nối thông tin từ nội dung của các bia ký cho thấy các văn bia này vốn thuộc về công trình đàn miếu được xây dựng tại thôn Tây Ngạn, đàn miếu này là nơi thờ Xã Tắc Đại vương. Miếu và đàn đã được xây dựng từ lâu, đến năm Kỷ Mão được trùng tu. Giai đoạn này, dấu vết đàn vẫn còn nhận thấy rõ do “đàn tế thần cao mà nghiêm chỉnh”...

Lý giải thêm cho chúng tôi, TS Nguyễn Văn Anh, Khoa Lịch sử, Trường Đại học KHXH-NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho biết: Theo sách Quốc triều chính biên toát yếu (Quốc sử quán triều Nguyễn, năm 2001), thì “Xã là thần lớn nhất trong 5 thổ thần, không thể tế hết cho nên tế thần Xã. Tắc là quý nhất trong ngũ cốc, ngũ cốc không thể tế hết cho nên tế thần Tắc. Tắc mà không có Xã thì không sinh trưởng được. Xã mà không có Tắc thì không thành hiệu gì hết cho nên hiệp tế Xã Tắc vì công lợi ngang nhau”.

Như vậy, thần Xã và thần Tắc được thờ phụng tại đền Xã Tắc (Móng Cái) chính là thần Xã Tắc. Một trong số những bài vị khắc trên bia kể trên có một hàng chữ Hán, phiên âm ra là “Bản phường cảnh chủ Xã Tắc Đại vương thần vị”, chính là bài vị thờ thần Xã Tắc, ghi là Xã Tắc Đại vương.

Bia lập năm Kỷ Mão, nói về việc trùng tu lại đàn miếu và những người phát tâm công đức, trong đó có Chánh đường phủ Hải Ninh họ Bùi.
Bia lập năm Kỷ Mão, nói về việc trùng tu lại đàn miếu và những người phát tâm công đức, trong đó có Chánh đường phủ Hải Ninh họ Bùi.
Bia lập năm Kỷ Mão, giải thích về thần Xã và thần Tắc, đồng thời ghi chép về những người phát tâm công đức, trong đó có ông Phủ úy Hải Ninh Đào Đức Điển.
Bia lập năm Kỷ Mão, giải thích về thần Xã và thần Tắc, đồng thời ghi chép về những người phát tâm công đức, trong đó có ông Phủ úy Hải Ninh Đào Đức Điển.

Thần Xã Tắc theo quy tắc của Nho giáo vốn chỉ được thờ ở kinh đô, lễ thần phải do vua chủ trì. Móng Cái xưa không thuộc vị thế đó, tại sao lại có đàn tế thần Xã Tắc?

Trước băn khoăn này, TS Nguyễn Văn Anh, lý giải thêm: Điển chế của Nho gia là như vậy, tuy nhiên, trải qua thời gian các quy định này cũng có biến đổi. Ở Trung Hoa, nơi phát sinh và hoàn thiện các điển chế liên quan đến thờ tự và lễ nghi của Xã Tắc cũng thấy rõ những biến chuyển như vậy. Từ thời Minh, thần Xã Tắc không chỉ được thờ ở kinh đô mà có cả cấp huyện.

Còn ở Việt Nam, dưới thời Nguyễn, vào năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), vua Minh Mệnh đã xuống dụ cho các địa phương từ trước đến nay chưa đặt đàn Xã Tắc đều phải chọn khu đất rộng rãi ở phía Tây, bên ngoài tỉnh thành để xây đàn Xã Tắc, hàng năm làm lễ tế vào mùa xuân và mùa thu. Như vậy, từ năm 1832, ở kinh đô có đàn Xã Tắc ở quy mô quốc gia, ở tỉnh thành có đàn Xã Tắc ở quy mô cấp tỉnh.

Vùng đất Móng Cái khi ấy thuộc tỉnh Quảng Yên. Đàn Xã Tắc của Quảng Yên được xây dựng ở phía Tây của tỉnh thành Quảng Yên, nay thuộc địa phận TX Quảng Yên. Như vậy, đàn Xã Tắc ở Móng Cái không phải là đàn Xã Tắc của tỉnh Quảng Yên. Có lẽ đó là lý do tại sao bài vị ghi là “Bản phường cảnh chủ Xã Tắc Đại vương thần vị”, tức là ở một cấp độ thấp hơn.

Với các di vật qua nghiên cứu của các nhà khoa học, lại có sự so sánh với điển chế về việc thờ tự Xã Tắc, có thể khẳng định ở Móng Cái trước đây vốn có đàn và có miếu, nơi thờ thần Xã Tắc, tức là thần đất và thần lúa làm thần chủ. Ngoài ra còn phối thờ Long mạch thổ thần của thôn và liệt vị gia tiên cư trú tại địa phương.

Đi tìm niên đại di vật

Các bia ký tìm thấy kể trên thực tế đều không có thông tin trực tiếp về niên đại của di vật, gắn với di tích đền Xã Tắc. Tuy nhiên, qua nghiên cứu họa tiết trang trí trên bài vị thờ Xã Tắc Đại vương cho thấy những yếu tố mỹ thuật thời Nguyễn. Nhất là việc sử dụng hình tượng “Dơi ngậm dây liên” (con dơi ngậm dải dây mềm như dải lụa, đan bện vào nhau) - mang ý nghĩa cầu mong Phúc lâu dài, được dùng phổ biến trong mỹ thuật thời Nguyễn. Như vậy, có thể xác định niên đại tương đối của di vật là thời Nguyễn và vào thời Nguyễn, năm Kỷ Mão chỉ có thể là các năm 1919, 1879 và 1939.

Lễ tế Xã Tắc trong khuôn khổ Lễ hội đền Xã Tắc năm 2019. Ảnh: Hữu Việt.
Lễ tế Xã Tắc trong khuôn khổ Lễ hội đền Xã Tắc năm 2019. Ảnh: Hữu Việt.

Minh văn trên hai tấm bia khác tại đây ghi là lập năm Kỷ Mão lại cho biết, trong số những người phát tâm công đức trùng tu lại miếu đàn và cùng nhau lập bia có ông Chánh đường phủ Hải Ninh họ Bùi và ông Phủ úy Hải Ninh Đào Đức Điển. Sách Đại Nam thực lục (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006) chép: “Giáp Ngọ, Minh Mệnh thứ 15 (1834), mùa đông tháng 12, đổi phủ Hải Đông thuộc tỉnh Quảng Yên làm phủ Hải Ninh”. Như vậy, có thể thấy phủ Hải Ninh bắt đầu xuất hiện sớm nhất là vào tháng 12/1834.

Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết, tháng 5 năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) nhà Nguyễn cho đổi phủ Hải Ninh làm đạo Hải Ninh. Vậy nghĩa là phủ Hải Ninh tồn tại trong khoảng thời gian từ 1834-1888. Điều ấy đồng nghĩa với việc năm Kỷ Mão mà các ông Chánh đường và Phủ úy của Phủ Hải Ninh tham gia công đức trùng tu đền miếu và dựng bia là năm 1879.

Với những thông tin liên quan đến phủ Hải Ninh, có thể xác định được tấm bia này được dựng năm Kỷ Mão (1879). Có cùng tự dạng, chất liệu, kỹ thuật chế tác nên có thể xác định 3 bài vị và 2 bia trong số 6 văn bia kể trên được làm cùng thời với nhau. Bia còn lại ghi là tạo dựng năm Tân Tỵ, nghĩa là được lập sau khi đàn miếu Xã Tắc đã được trùng tu năm 1879, nên có thể là được tạo dựng năm Tân Tỵ 1881.

Từ niên đại trùng tu đàn miếu Xã Tắc vào năm 1879, có thể thấy trước thời gian này, ở đây đã có công trình đàn miếu thờ Xã Tắc Đại vương rồi. Năm 1879, đàn miếu Xã Tắc đã được trùng tu, tôn tạo và tiếp tục được tu sửa nhiều lần với sự tham gia phát tâm công đức của nhiều người, trong đó có cả sự tham gia của các quan lại địa phương...

Tháng 4 vừa qua, đền Xã Tắc đã được công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia. Di tích này từ lâu cũng đã nằm trong hệ thống tuyến, điểm du lịch của địa phương. Những năm gần đây, TP Móng Cái đã tiến hành phục dựng lễ hội đền Xã Tắc, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh, đồng thời góp phần tạo thêm một sản phẩm du lịch phục vụ du khách. Với những cứ liệu khoa học này, thiết nghĩ TP Móng Cái có thể phối hợp với các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, để tìm hướng bảo tồn, phát huy tốt hơn các giá trị của đền Xã Tắc trong đời sống hôm nay.

Cùng chuyên mục