Làm chủ nhiều kỹ thuật hiện đại trong điều trị vô sinh, hiếm muộn và chẩn đoán di truyền, Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh đã giúp hàng nghìn gia đình hiện thực hóa mong ước có con. Đặc biệt việc thành lập Trung tâm Hỗ trợ sinh sản và Di truyền của Bệnh viện tiếp tục tạo điều kiện phát triển các kỹ thuật chuyên sâu, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người dân.
Hai anh em sinh đôi Mai Anh và Nam Anh (lớp 6A7, Trường THCS Trần Hưng Đạo, phường Quảng Yên) đang có những ngày tháng học trò hồn nhiên bên bạn bè. Để có được niềm vui ấy, cha mẹ hai em đã trải qua thời gian dài mong mỏi có con. Nhờ phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI) tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh, hai em đã chào đời khỏe mạnh.
Chị Nguyễn Thị Trang (khu Hà An 3, phường Hà An), mẹ của hai em, chia sẻ: “Năm 2014, khi Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh bắt đầu triển khai các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, tôi đã lựa chọn đến đây điều trị. Dù được giới thiệu một số cơ sở y tế khác, tôi vẫn tin tưởng vào trình độ chuyên môn của các bác sĩ tại địa phương. Giờ nhìn hai con lớn lên khỏe mạnh, gia đình tôi rất vui và biết ơn các y, bác sĩ đã giúp chúng tôi có được hạnh phúc hôm nay”.
Chị Nguyễn Thị Hường (phường Cẩm Phả) cũng từng trải qua thời gian dài điều trị hiếm muộn. Sau lần chuyển phôi không thành công khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) tại Hà Nội, một năm sau, chị quyết định tiếp tục điều trị bằng phương pháp này tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh. Lần chuyển phôi thành công đã mang đến cho chị niềm vui mang thai. Giờ đây, mỗi lần siêu âm, được nghe nhịp tim thai, chị càng thêm mong chờ ngày đón con chào đời.
Những trường hợp trên cho thấy hiệu quả của việc phát triển kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại địa phương, giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn thuận lợi hơn trong thăm khám, điều trị, giảm thời gian đi lại và chi phí phát sinh. Đến hết tháng 9/2026, Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh đã giúp 3.125 trẻ chào đời nhờ phương pháp IVF và 714 trẻ bằng phương pháp IUI.
Để nâng cao hiệu quả điều trị, bệnh viện đã đầu tư hệ thống labo phôi học hiện đại, ứng dụng nhiều kỹ thuật chuyên sâu. Trong đó, hệ thống nuôi cấy phôi Time-lapse tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) cho phép theo dõi liên tục quá trình phát triển của phôi, hỗ trợ chuyên gia đánh giá, lựa chọn phôi phù hợp. Các kỹ thuật trữ lạnh phôi, hoạt hóa noãn nhân tạo, hỗ trợ phôi thoát màng và lọc rửa tinh trùng bằng công nghệ vi dòng chảy cũng được triển khai, mở rộng khả năng điều trị đối với những trường hợp hiếm muộn phức tạp.
Bệnh viện cũng chú trọng phát triển lĩnh vực di truyền y học, nhất là chẩn đoán di truyền tiền làm tổ. Năm 2018, bệnh viện thực hiện thành công kỹ thuật sàng lọc bất thường số lượng nhiễm sắc thể phôi (PGT-A) và chẩn đoán di truyền tiền làm tổ đối với bệnh Thalassemia (PGT-M). Tháng 11/2019, em bé khỏe mạnh đầu tiên sau thực hiện kỹ thuật PGT-M đối với bệnh Thalassemia chào đời tại bệnh viện. Kỹ thuật này giúp các cặp vợ chồng mang gen bệnh có thêm cơ hội sinh con không mắc bệnh di truyền cần sàng lọc.
Trong điều trị vô sinh nam, bệnh viện cũng đã triển khai kỹ thuật vi phẫu tìm tinh trùng trong tinh hoàn (Micro TESE), hỗ trợ tìm kiếm tinh trùng ở một số nam giới vô tinh để thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm. Sự kết hợp giữa phôi học, nam khoa và di truyền y học giúp bác sĩ đánh giá toàn diện nguyên nhân hiếm muộn, lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp với từng người bệnh.
Trên nền tảng những kết quả đạt được và định hướng phát triển y tế chuyên sâu của Quảng Ninh, ngày 12/10/2026, Trung tâm Hỗ trợ sinh sản và Di truyền (Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh) chính thức được thành lập.
Theo bác sĩ CKII Đỗ Duy Long, Phó Giám đốc Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh, mô hình mới tạo điều kiện tăng cường phối hợp giữa các chuyên ngành, nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị. Trung tâm tiếp tục đầu tư hệ thống labo, ứng dụng công nghệ hiện đại, đào tạo nhân lực chuyên sâu và mở rộng chẩn đoán di truyền, nhằm nâng cao cơ hội sinh con khỏe mạnh cho những gia đình có nguy cơ truyền bệnh di truyền. Cùng với đó, tăng cường nghiên cứu khoa học, hợp tác chuyên môn trong nước và quốc tế, từng bước nâng cao chất lượng điều trị, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân.