Với tinh thần gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân, vì hạnh phúc nhân dân, một yêu cầu quan trọng trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là mỗi chủ trương, nghị quyết sau khi ban hành phải nhanh chóng được cụ thể hóa thành những nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với thực tiễn. Với Quảng Ninh, đó không chỉ là tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương lớn của Trung ương, mà còn là quá trình chủ động lựa chọn những vấn đề trọng tâm của địa phương để ban hành nghị quyết, chương trình, kế hoạch sát với yêu cầu phát triển, đời sống nhân dân và hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp.
Chủ trương phải gắn với thực tiễn
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, suy cho cùng, phải được thể hiện bằng những kết quả cụ thể trong cuộc sống. Trên cơ sở các định hướng lớn của Trung ương, Quảng Ninh chủ động cụ thể hóa thành mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn; đồng thời thường xuyên rà soát, kiểm đếm, điều chỉnh cách làm để nghị quyết nhanh chóng trở thành những việc làm cụ thể, tạo chuyển biến và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân.
Mang tính bao trùm và thiết thực là Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 9/12/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Nghị quyết xác định chủ đề công tác năm là “Đột phá trong tăng trưởng kinh tế; nâng cao chất lượng đô thị, sớm đạt tiêu chí thành phố trực thuộc Trung ương”, cùng 24 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó GRDP tăng trên 12,5%, GRDP bình quân đầu người đạt từ 11.800 USD, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trên 14%, kinh tế số trên 12%, thành lập mới trên 2.500 doanh nghiệp...
Từ mục tiêu “sớm đạt tiêu chí thành phố trực thuộc Trung ương”, Quảng Ninh tập trung hoàn thiện các tiêu chuẩn, tiêu chí và các điều kiện cần thiết; đến ngày 1/9/2026 chính thức trở thành thành phố. Đây là một kết quả lớn, cho thấy khi mục tiêu được xác định rõ, tổ chức thực hiện quyết liệt và đồng bộ, nghị quyết có thể nhanh chóng được chuyển hóa thành kết quả thực tiễn.
Cùng với mục tiêu lớn đó, Nghị quyết số 05-NQ/TU được cụ thể hóa bằng những việc làm gắn trực tiếp với đời sống. Từ nguồn lực được phân bổ, Quảng Ninh tập trung đầu tư hạ tầng giao thông, thoát nước, chỉnh trang đô thị, khu dân cư hiện hữu, nâng cấp các thiết chế văn hóa và những công trình dân sinh thiết yếu. Riêng nguồn vốn đầu tư phát triển bố trí cho cấp xã từ ngày 1/7/2025 đến nay đạt 6.640 tỷ đồng, trong đó 2.300 tỷ đồng trong năm 2025 và 4.340 tỷ đồng trong năm 2026.
Từ chủ trương chung, các địa phương tiếp tục cụ thể hóa thành những công trình, phần việc phù hợp với từng khu dân cư. Nhiều tuyến đường được chỉnh trang, thiết chế văn hóa, không gian sinh hoạt cộng đồng được đầu tư; người dân đồng thuận, tự nguyện hiến đất, tháo dỡ công trình, vật kiến trúc để mở rộng đường giao thông, xây dựng các công trình phục vụ cộng đồng. Hàng trăm công trình hoàn thành, đưa vào sử dụng, tạo những thay đổi cụ thể trong không gian sống.
Bà Nguyễn Thị Phương, phường Phong Cốc, chia sẻ: “Trước đây đường sá, không gian sinh hoạt của khu dân cư còn nhiều bất tiện. Nay đường được chỉnh trang, có thêm không gian sinh hoạt cộng đồng, người dân thấy rõ cuộc sống thay đổi nên càng đồng thuận với chủ trương của địa phương”. Mỗi một tuyến đường được mở rộng hay một không gian sinh hoạt cộng đồng được hình thành có thể chưa phải là những con số lớn, nhưng lại là nơi dễ nhất để người dân nhận thấy nghị quyết đang đi vào cuộc sống. Từ những việc cụ thể ấy, mục tiêu nâng cao chất lượng đô thị được chuyển hóa thành những thay đổi trong từng không gian sống.
Ở lĩnh vực kinh tế, hiệu quả của cách làm quyết liệt, linh hoạt được thể hiện rõ qua kết quả tăng trưởng. 9 tháng năm 2026, GRDP của thành phố Quảng Ninh tăng 12,54%, đứng đầu cả nước; riêng quý III tăng 15,04%. Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 80.327 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt gần 97.948 tỷ đồng; thu hút FDI trên 1,3 tỷ USD và có 2.715 doanh nghiệp thành lập mới… Đằng sau những con số đó là cách điều hành bám sát thực tiễn, thường xuyên rà soát từng chỉ tiêu, từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm và dự án để nhận diện điểm nghẽn, bổ sung dư địa tăng trưởng. Trong các cuộc làm việc về kịch bản tăng trưởng, đồng chí Bùi Văn Khắng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố, luôn yêu cầu các sở, ngành, địa phương đánh giá sát kết quả thực hiện, rà soát cụ thể từng chỉ tiêu, từng nhiệm vụ, nhất là những nội dung còn khó khăn, tiến độ chậm; xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm và tập trung tháo gỡ ngay. Từ cách làm đó, nghị quyết không dừng ở việc xác lập mục tiêu, mà được chuyển hóa thành chương trình hành động, nguồn lực và kết quả cụ thể. Tăng trưởng kinh tế, nâng cấp đô thị hay mở rộng không gian phát triển, suy cho cùng, đều phải hướng tới tạo thêm việc làm, thu nhập, điều kiện sống tốt hơn và những giá trị thiết thực cho nhân dân.
Từ Nghị quyết số 05-NQ/TU cũng có thể nhìn thấy một cách tiếp cận rộng hơn trong đưa nghị quyết vào cuộc sống, đó là kết nối nghị quyết của Trung ương với yêu cầu thực tiễn của địa phương; kết nối mục tiêu phát triển dài hạn với những việc cần làm ngay; kết nối chỉ tiêu tăng trưởng với chất lượng đời sống; kết nối quyết sách của cấp ủy với trách nhiệm tổ chức thực hiện của chính quyền, cán bộ và sự đồng thuận, tham gia của người dân, doanh nghiệp.
Cách làm đó tiếp tục được thể hiện trong việc Quảng Ninh triển khai các nghị quyết quan trọng của Trung ương. Với Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Quảng Ninh không chỉ tổ chức quán triệt, xây dựng chương trình hành động mà còn cụ thể hóa bằng những nhiệm vụ, mô hình đưa công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và hoạt động quản lý nhà nước. Sau một năm triển khai, Quảng Ninh hoàn thành 128/131 nhiệm vụ do Trung ương giao, đạt 97,7%; đồng thời nằm trong Top 3 địa phương dẫn đầu cả nước về Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII) năm 2025.
Đặc biệt, những chuyển động từ cơ sở cho thấy rõ hơn sức sống của một chủ trương lớn. Tại phường Vàng Danh, “Bình dân học vụ số” được triển khai theo phương pháp “cầm tay chỉ việc”, hướng dẫn người dân sử dụng VNeID, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và kỹ năng nhận diện nguy cơ lừa đảo trên không gian mạng. Từ những thao tác tưởng như rất nhỏ, công nghệ số từng bước trở thành công cụ phục vụ sinh hoạt và công việc hằng ngày. Khi người dân có thể tiếp cận các tiện ích số thuận lợi hơn, cán bộ cơ sở có thêm công cụ xử lý công việc, doanh nghiệp được tiếp cận môi trường quản trị thuận lợi hơn, Nghị quyết 57-NQ/TW đã bắt đầu tạo ra những giá trị cụ thể trong đời sống.
Tinh thần ấy tiếp tục được thể hiện trong triển khai Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Từ lợi thế cửa ngõ Đông Bắc, Quảng Ninh chủ động mở rộng không gian phát triển thông qua kết nối quốc tế, thu hút nguồn lực, công nghệ và tri thức, gắn hội nhập với nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế. Tại Khu công nghiệp Sông Khoai, đã có 25 dự án đầu tư thứ cấp, 100% là dự án FDI, tổng vốn đăng ký gần 3 tỷ USD, tạo việc làm cho khoảng 4.400 lao động. Các dự án tập trung vào chế biến, chế tạo, công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ, góp phần bổ sung nguồn lực, công nghệ và năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
Như vậy, Quảng Ninh vừa tổ chức thực hiện những chủ trương lớn của Trung ương, vừa chủ động ban hành các nghị quyết của mình để giải quyết những vấn đề cụ thể của địa phương. Hai quá trình ấy bổ trợ cho nhau, tạo thành một chu trình từ chủ trương đến hành động, từ hành động đến kết quả và từ thực tiễn tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Bởi vậy, khi nhìn vào hiệu quả của một nghị quyết, điều quan trọng không chỉ là có bao nhiêu văn bản được ban hành hay bao nhiêu hội nghị được tổ chức, mà là nghị quyết đã tạo ra những thay đổi gì trong thực tế…
Lấy con người làm gốc, kiến tạo giá trị phát triển
Nếu cụ thể hóa là bước đưa nghị quyết vào cuộc sống thì lấy con người làm gốc chính là điểm đến của quá trình ấy. Trong cách tiếp cận mới, tăng trưởng kinh tế, phát triển hạ tầng, chuyển đổi số hay mở rộng hội nhập không phải những mục tiêu tách rời đời sống. Giá trị cuối cùng phải được phản ánh ở chất lượng sống, cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe, việc làm, môi trường sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân.
Điều này được thể hiện rõ trong triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Bám sát yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “chữa bệnh” sang chủ động “phòng bệnh”, thành phố Quảng Ninh đã tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân. Tính đến 30/9/2026, toàn thành phố đã có gần 1,4 triệu người được khám, đạt 99,90% tổng số đối tượng thuộc diện được khám, kiểm tra sức khỏe.
Điểm đáng chú ý của chương trình không chỉ nằm ở số người được khám, mà ở cách tiếp cận chủ động, đưa chăm sóc sức khỏe đến gần người dân hơn, từ cơ sở và theo hướng liên tục. Đây là cách một chủ trương ở tầm chiến lược được chuyển hóa thành chính sách cụ thể, để người dân trực tiếp tiếp cận và thụ hưởng.
Trong giáo dục, Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt yêu cầu phát triển giáo dục trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước. Ở Quảng Ninh, định hướng đó được cụ thể hóa bằng việc tăng đầu tư, xây dựng các chính sách đặc thù, giảm chi phí học tập, nâng cao chất lượng giáo dục và ưu tiên những địa bàn, đối tượng còn khó khăn. Đáng chú ý, 10 chính sách giáo dục đặc thù của Quảng Ninh đang tạo thành mạng lưới hỗ trợ toàn diện cho hơn 539.000 lượt người học và nhà giáo, với kinh phí gần 800 tỷ đồng mỗi năm học. Chính sách bao phủ từ dinh dưỡng, chăm sóc và hỗ trợ học tập đến an sinh, phát triển nhân tài; trong đó có hỗ trợ sữa học đường, ăn trưa bán trú, ăn ở tập trung nội trú, sách giáo khoa, hỗ trợ một số nhóm học sinh khó khăn, đóng 100% bảo hiểm bắt buộc cho giáo viên mầm non tư thục, cùng các chính sách bồi dưỡng, khen thưởng học sinh giỏi. Từ năm học 2026-2027, toàn bộ học sinh phổ thông và học viên giáo dục thường xuyên được mượn sách giáo khoa miễn phí tại trường; thí điểm việc đưa học sinh đến trường bằng xe bus miễn phí tại một số phường…
Anh Đặng Phúc Khoa, có con đang học tại Trường Mầm non Đồn Đạc (xã Ba Chẽ), phấn khởi chia sẻ: “Các cháu được uống sữa miễn phí, ăn trưa miễn phí nên gia đình giảm được một phần chi phí. Thi thoảng tôi đến trường, thấy các con được ăn cơm nóng, đủ chất, được các cô chăm sóc chu đáo từng bữa ăn, giấc ngủ nên rất yên tâm. Gia đình sẽ cố gắng đưa cháu đi học đầy đủ, để cháu có điều kiện học tập, vui chơi cùng các bạn”.
Những chính sách ấy không chỉ giảm một phần chi phí cho gia đình, mà còn mở rộng cơ hội học tập, nhất là đối với trẻ em ở những địa bàn và nhóm đối tượng còn khó khăn. Cách làm này cho thấy rõ quan điểm lấy người học làm trung tâm, nguồn lực được đưa trực tiếp đến người học và nhà giáo, đồng thời tạo điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục và chuẩn bị nguồn nhân lực cho giai đoạn phát triển mới.
Từ tư duy lấy con người làm trung tâm, thành phố cũng đang nghiên cứu những mô hình mới nhằm nâng cao chất lượng các thiết chế trực tiếp phục vụ người dân. Thường trực Thành ủy đã cho ý kiến về Đề án thí điểm mô hình “Trường học xã hội chủ nghĩa” và “Bệnh viện xã hội chủ nghĩa”. Theo định hướng, mô hình “Bệnh viện xã hội chủ nghĩa” được đề xuất thí điểm tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí giai đoạn 2026-2030; mô hình “Trường học xã hội chủ nghĩa” được đề xuất tại Trường TH, THCS và THPT Vũ Văn Hiếu và Trường TH, THCS và THPT Thực hành Sư phạm thuộc Đại học Hạ Long.
Điểm đáng chú ý của những mô hình này không nằm ở tên gọi, mà ở yêu cầu tạo ra những thay đổi cụ thể trong từng lớp học, từng hoạt động giáo dục, từng quy trình khám chữa bệnh và từng trải nghiệm của người dân. Với trường học, đó là xây dựng môi trường kỷ cương, an toàn, văn minh, tạo điều kiện để học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng sống, tư duy đổi mới sáng tạo, khát vọng cống hiến và trách nhiệm với cộng đồng. Với bệnh viện, đó là nâng cao chất lượng chuyên môn, chất lượng phục vụ và trách nhiệm xã hội, hướng tới môi trường khám chữa bệnh hiện đại, an toàn, nhân văn, công bằng, thông minh, xanh và bền vững, quan tâm tốt hơn tới người có công, người nghèo và các nhóm yếu thế.
Cách tiếp cận ấy cho thấy một yêu cầu ngày càng rõ trong quản trị phát triển, không chỉ tạo ra những con số tăng trưởng, mà phải tạo ra giá trị phát triển mà người dân có thể cảm nhận và thụ hưởng. Một con đường được mở rộng, một trường học được nâng cấp, một thủ tục được giải quyết thuận tiện hơn, một người dân được khám sức khỏe sớm, một học sinh có thêm cơ hội học tập, một doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi hơn với thị trường và công nghệ đó chính là những hình hài cụ thể của nghị quyết trong cuộc sống.
Khi đặt con người vào vị trí trung tâm, thước đo hiệu quả của lãnh đạo cũng được nhìn nhận đầy đủ hơn. Không chỉ là bao nhiêu nhiệm vụ đã hoàn thành, bao nhiêu chương trình đã ban hành, mà quan trọng hơn là những chính sách ấy tạo ra thay đổi gì, người dân được hưởng lợi ra sao, doanh nghiệp có thêm cơ hội phát triển thế nào và những vấn đề đặt ra từ cơ sở đã được giải quyết đến đâu. Đó cũng là yêu cầu đặt ra đối với thành phố Quảng Ninh trong không gian phát triển mới. Quy mô phát triển lớn hơn đòi hỏi phương thức lãnh đạo, quản trị phải theo kịp; nhưng đích đến của phát triển vẫn là con người. Kinh tế phải tạo ra việc làm và thu nhập; hạ tầng phải nâng chất lượng sống; khoa học, công nghệ phải giải quyết những vấn đề thực tiễn; hội nhập phải mở thêm cơ hội cho người dân và doanh nghiệp; giáo dục, y tế và an sinh xã hội phải tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài.
Nhìn từ thực tiễn Quảng Ninh, đưa nghị quyết vào cuộc sống vì thế không phải là một khâu sau khi nghị quyết được ban hành, mà là cả một quá trình từ lựa chọn đúng vấn đề, cụ thể hóa thành nhiệm vụ, tổ chức thực hiện, kiểm đếm kết quả đến lắng nghe và điều chỉnh từ thực tiễn. Trong quá trình ấy, người dân vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể tham gia và là một trong những thước đo quan trọng của hiệu quả chính sách.
Từ đổi mới phương thức lãnh đạo, đến xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực thực hiện, rồi đưa nghị quyết thành những kết quả cụ thể trong đời sống, mạch vận động ấy tạo nên một yêu cầu xuyên suốt đối với Đảng trong không gian phát triển mới, lãnh đạo phải bắt đầu từ thực tiễn và cuối cùng phải được kiểm chứng bằng thực tiễn.
Đó cũng là điểm khép lại của chùm bài “Nâng tầm lãnh đạo của Đảng trong không gian mới”. Không gian phát triển có thể mở rộng, mô hình quản trị có thể đổi mới, công nghệ có thể thay đổi từng ngày, nhưng giá trị của mọi quyết sách vẫn được xác lập từ những gì người dân thực sự được hưởng. Khi nghị quyết trở thành cuộc sống, mỗi chính sách tạo thêm cơ hội phát triển và thành quả tăng trưởng được chuyển hóa thành chất lượng sống, khi đó đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng được cụ thể hóa bằng những giá trị thiết thực, bền vững trong đời sống xã hội.