Một nghiên cứu công bố ngày 22/6 trên tạp chí Nature Climate Change cho thấy Mexico, Kenya, Italia và nhiều quốc gia khác hiện phải trải qua thêm từ một đến hai tháng nắng nóng nguy hiểm mỗi năm so với vài thập niên trước. Ngay cả những khu vực trước đây hầu như không bị ảnh hưởng bởi nắng nóng cực đoan cũng bắt đầu ghi nhận hiện tượng này.
Theo nghiên cứu, nhiệt độ cảm nhận thực tế, số ngày chịu áp lực nhiệt và số đêm nhiệt đới đã gia tăng đáng kể cả về tần suất, thời gian kéo dài và mức độ nghiêm trọng trong suốt 60 năm qua, khi quá trình Trái Đất nóng lên do việc đốt nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ và khí đốt ngày càng gia tăng.
Khác với nhiều nghiên cứu trước đây chỉ dựa trên nhiệt độ không khí, các nhà khoa học đã sử dụng Chỉ số Khí hậu Nhiệt toàn cầu (UTCI) để đánh giá mức độ tác động của nhiệt đối với con người, có tính đến các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió và phản ứng sinh lý của cơ thể con người trước điều kiện môi trường.
Sự kết hợp giữa nhiệt độ cao và độ ẩm lớn được đánh giá đặc biệt nguy hiểm, bởi độ ẩm làm giảm hiệu quả của quá trình bay hơi mồ hôi – cơ chế làm mát tự nhiên của cơ thể. Vì vậy, các đợt nắng nóng kèm độ ẩm cao có thể gây tử vong nhiều hơn so với nắng nóng khô.
Áp lực nhiệt gia tăng cả ở những khu vực vốn nóng lẫn nơi trước đây ít xảy ra nắng nóng
Nghiên cứu phân loại áp lực nhiệt thành ba mức gồm mạnh, rất mạnh và cực đoan. Một số khu vực ở miền Nam châu Phi như Namibia và Angola; Đông Phi gồm Tanzania, Kenya và Uganda; cùng nhiều nơi ở Mexico và Trung Mỹ hiện ghi nhận thêm khoảng 50 ngày mỗi năm có mức áp lực nhiệt mạnh so với thập niên 1970.
Tại Nam Âu, nhiều khu vực ở Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ có thêm tới 40 ngày chịu áp lực nhiệt mạnh mỗi năm. Phần lớn khu vực Nam Âu đang phải trải qua thêm gần một tháng có mức áp lực nhiệt mạnh so với vài chục năm trước.
Tại Mỹ, phần lớn lãnh thổ ghi nhận thêm ít nhất 15 ngày chịu áp lực nhiệt mạnh mỗi năm, trong khi các bang miền Nam như Texas và Florida có thêm khoảng 25 ngày hoặc hơn với mức áp lực nhiệt rất mạnh.
Bà Rebecca Emerton, tác giả chính của nghiên cứu và là nhà khoa học cấp cao tại Trung tâm Dự báo Thời tiết tầm trung châu Âu (ECMWF), cho biết điều đáng chú ý là áp lực nhiệt không chỉ gia tăng tại những nơi vốn quen thuộc với các đợt nắng nóng mà còn đang mở rộng sang những khu vực trước đây rất hiếm hoặc hầu như chưa từng ghi nhận hiện tượng này.
Nghiên cứu cũng cho thấy nhiệt độ cảm nhận trong 10 đêm nóng nhất mỗi năm tăng nhanh hơn so với 10 ngày nóng nhất. Điều này đồng nghĩa với việc cơ thể con người có ít thời gian hơn để phục hồi sau tác động của nắng nóng ban ngày. Hiện có thêm khoảng 1 tỷ người trên thế giới phải đối mặt với ít nhất một ngày chịu áp lực nhiệt cực đoan mỗi năm so với thập niên 1970.
Các nhà khoa học nhấn mạnh mức độ tác động trong tương lai sẽ phụ thuộc vào những nỗ lực cắt giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời kêu gọi triển khai các chiến lược thích ứng, kế hoạch ứng phó với nắng nóng, hệ thống cảnh báo sớm và đánh giá rủi ro khí hậu nhằm giảm thiểu tác động đối với con người.