Phát triển kinh tế biển không thể tách rời sinh kế người dân và bảo vệ môi trường

Phát triển kinh tế biển phải đi đôi với bảo vệ hệ sinh thái, bảo đảm quyền tiếp cận biển và sinh kế lâu dài của cộng đồng dân cư ven biển. Đây là những yêu cầu được các đại biểu Quốc hội đặt ra nhằm hoàn thiện dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), hướng tới khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên biển.

Chiều 6/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân, tránh chồng chéo trong quản lý

Góp ý về dự thảo luật Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi, đại biểu Lê Hữu Trí (Đoàn Khánh Hòa) cho rằng, luật cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa khai thác và bảo tồn, giữa lợi ích quốc gia và quyền lợi chính đáng của người dân, giữa phát triển trước mắt và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai.

Góp ý Điều 6, Điều 7 và Điều 22, đại biểu cho rằng dự thảo đã xác định nguyên tắc Chính phủ thống nhất quản lý và cơ chế phối hợp liên ngành, nhưng cần làm rõ hơn cơ quan đầu mối, thẩm quyền quyết định cuối cùng và trách nhiệm giải trình khi phát sinh vấn đề liên ngành, liên vùng.

Theo đại biểu, nếu chỉ quy định trách nhiệm phối hợp mà không xác định rõ thẩm quyền quyết định và thời hạn xử lý thì nguy cơ chồng chéo vẫn còn, thậm chí có thể phát sinh thêm tầng nấc hành chính. Việc phân cấp cho địa phương phải đi đôi với nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và cơ chế kiểm tra, giám sát.

Đại biểu Lê Hữu Trí (Đoàn Khánh Hòa). (Ảnh: DUY LINH)
Đại biểu Lê Hữu Trí (Đoàn Khánh Hòa). (Ảnh: DUY LINH)

Đặc biệt, đối với Điều 9 về quyền tiếp cận biển, Điều 10 về sự tham gia của cộng đồng, Điều 23 về xây dựng, quản lý đảo nhân tạo, công trình trên biển và Điều 52 về bảo vệ bờ biển, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân ngay từ khâu quy hoạch, giao khu vực biển và phê duyệt dự án.

Các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi tắm công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng.

“Không được biến quyền tiếp cận hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của nhà đầu tư”, đại biểu Lê Hữu Trí nhấn mạnh.

Đại biểu cũng đề nghị công khai quy hoạch, tổ chức tham vấn cộng đồng thực chất và xử lý nghiêm hành vi chiếm dụng không gian biển công cộng.

Việc giao, cho thuê, đấu giá quyền sử dụng khu vực biển phải bảo đảm minh bạch, tránh tình trạng đầu cơ, giữ chỗ, chuyển nhượng dự án nhằm trục lợi từ tài nguyên biển. Đặc biệt, không thể chỉ căn cứ vào số tiền doanh nghiệp sẵn sàng trả mà phải xem xét cả tác động môi trường, sinh kế người dân, quốc phòng, an ninh và khả năng phục hồi sinh thái.

Cùng quan tâm đến cơ chế giải quyết chồng lấn không gian biển, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (Đoàn thành phố Cần Thơ) đề nghị hoàn thiện khoản 4 và khoản 5 Điều 21, xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan có thẩm quyền quyết định và thời hạn xử lý.

Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (Đoàn thành phố Cần Thơ). (Ảnh: DUY LINH)
Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (Đoàn thành phố Cần Thơ). (Ảnh: DUY LINH)

Theo đại biểu, tại những địa phương phát triển đồng thời cảng biển, năng lượng, thủy sản và du lịch, một khu vực biển có thể liên quan đến nhiều ngành. Nếu chỉ dừng ở việc lấy ý kiến, tổng hợp và báo cáo mà không có thời hạn cụ thể, hồ sơ có thể kéo dài, doanh nghiệp khó dự tính tiến độ, còn người dân không biết hoạt động của mình sẽ được giải quyết ra sao.

Vì vậy, khi hết thời hạn phối hợp mà các cơ quan chưa thống nhất, cơ quan chủ trì phải tổng hợp đầy đủ ý kiến, trình cấp có thẩm quyền quyết định; không để việc chưa thống nhất trở thành lý do kéo dài xử lý vô thời hạn.

Không để người dân ven biển mất sinh kế khi triển khai các dự án

Một nội dung được các đại biểu đặc biệt quan tâm là chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển bị ảnh hưởng bởi các dự án sử dụng không gian biển.

Góp ý Điều 47, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm cho rằng dự thảo đã đề cập hỗ trợ chuyển đổi sinh kế và xác định mức độ ảnh hưởng của dự án là một tiêu chí hỗ trợ. Tuy nhiên, chưa làm rõ trách nhiệm lập phương án, nguồn kinh phí và thời điểm triển khai đối với cộng đồng bị ảnh hưởng trực tiếp.

Đại biểu lưu ý, trong thực tế có những người dân mưu sinh hợp pháp trên biển nhưng không thuộc đối tượng có quyền sử dụng khu vực biển bị thu hồi. Khi triển khai dự án, họ vẫn có thể bị giảm thu nhập hoặc buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp. Nếu chính sách chỉ tập trung vào trường hợp thu hồi khu vực biển thì chưa bao quát đầy đủ những đối tượng này.

Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung sau khoản 3 Điều 47 quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xác định đối tượng, mức độ ảnh hưởng và lập phương án hỗ trợ đối với cộng đồng dân cư ven biển có sinh kế hợp pháp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án.

Phương án hỗ trợ phải được tham vấn cộng đồng, công khai về đối tượng, nội dung, kinh phí, tiến độ và trách nhiệm thực hiện. Đặc biệt, các biện pháp hỗ trợ cần thiết phải được triển khai trước khi hoạt động của dự án làm gián đoạn sinh kế.

Đại biểu cũng đề nghị Chính phủ quy định rõ trách nhiệm đóng góp kinh phí của chủ dự án tương ứng với mức độ tác động, phần hỗ trợ của Nhà nước và nguyên tắc không chi trả trùng cho cùng một đối tượng.

Nhấn mạnh yêu cầu hỗ trợ thực chất, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm cho rằng: “Người dân cần biết sau khi thay đổi hoạt động sản xuất, họ có thể làm gì, được hỗ trợ như thế nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm theo dõi”.

Cùng quan điểm, đại biểu Nguyễn Hữu Trí (Đoàn Khánh Hòa) đề nghị hoàn thiện Điều 40 và Điều 47 theo hướng chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển không chỉ dừng ở những quy định mang tính khuyến khích.

Khi một khu vực biển được chuyển đổi mục đích sử dụng để phục vụ dự án kinh tế, cần đánh giá đầy đủ tác động đối với ngư dân, người làm nghề biển, hoạt động nuôi trồng thủy sản và các dịch vụ cộng đồng.

Theo đại biểu, cần thiết kế cơ chế hỗ trợ chuyển đổi nghề, đào tạo kỹ năng, tạo việc làm mới, phục hồi sinh kế, đồng thời có chính sách để cộng đồng dân cư được tham gia và hưởng lợi hợp lý từ các hoạt động phát triển kinh tế biển.

Đối với các quy định về nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam, đại biểu Nguyễn Thanh Ngân (Đoàn Khánh Hòa) đề nghị rà soát điểm c khoản 3 Điều 17 để bảo đảm thống nhất với Điều 13 và các quy định khác của dự thảo luật.

Đại biểu Nguyễn Thanh Ngân (Đoàn Khánh Hòa). (Ảnh: DUY LINH)
Đại biểu Nguyễn Thanh Ngân (Đoàn Khánh Hòa). (Ảnh: DUY LINH)

Theo đại biểu, quy định hiện mới đề cập hoạt động nghiên cứu khoa học không được gây ô nhiễm môi trường biển, hủy hoại hệ sinh thái biển mà chưa bao quát hành vi gây suy thoái môi trường biển.

Trong khi đó, suy thoái môi trường có thể xảy ra trước khi hệ sinh thái bị hủy hoại, thể hiện qua sự suy giảm chất lượng nước biển, biến đổi đặc tính trầm tích hoặc suy giảm chất lượng môi trường sống của các loài sinh vật.

Đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ “suy thoái môi trường biển”, đồng thời quy định không làm suy giảm nghiêm trọng chức năng, cấu trúc hệ sinh thái biển để phòng ngừa đầy đủ các tác động tiêu cực ngay từ khâu xem xét cấp phép nghiên cứu khoa học.

Đối với điểm b khoản 4 Điều 17, đại biểu Nguyễn Thanh Ngân cho rằng không nên từ chối cấp phép nghiên cứu khoa học chỉ vì khu vực nghiên cứu chồng lấn với hoạt động khai thác, sử dụng biển hợp pháp khác.

“Việc chồng lấn về tọa độ địa lý không đồng nghĩa với việc hai hoạt động sẽ triệt tiêu lẫn nhau”, đại biểu nêu quan điểm.

Dẫn chứng trường hợp nghiên cứu sự phục hồi của rạn san hô và hệ sinh thái đáy biển trong khu vực có công trình điện gió ngoài khơi, đại biểu cho rằng hoạt động nghiên cứu vẫn có thể được thực hiện nếu bảo đảm an toàn và không gây cản trở đáng kể đến việc sản xuất điện.

Vì vậy, đại biểu đề nghị chỉ từ chối cấp phép khi hoạt động nghiên cứu thực sự gây mất an toàn, làm gián đoạn nghiêm trọng hoạt động hợp pháp khác và không thể khắc phục bằng các biện pháp giảm thiểu. Trường hợp có chồng lấn, cần tạo điều kiện để các bên điều chỉnh thời gian, phạm vi hoặc phương thức thực hiện.

Phát biểu giải trình, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng cho biết, Chính phủ tiếp thu các ý kiến đại biểu Quốc hội, tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, điều phối sử dụng không gian biển, phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp, các ngành. Việc phân cấp, phân quyền phải gắn với nguồn lực, năng lực thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát.

Đối với việc giao, cho thuê, đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, Phó Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu công khai, minh bạch, cạnh tranh thực chất, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện quy định về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế gắn với việc làm, thu nhập thực tế; bảo đảm quyền tiếp cận biển và sử dụng không gian công cộng của người dân.

Về bảo vệ môi trường biển, Phó Thủ tướng khẳng định phát triển phải phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường, gắn với bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái. Chính phủ sẽ tiếp tục rà soát các quy định về bảo vệ bờ biển, kiểm soát ô nhiễm, phục hồi môi trường và quy định chuyển tiếp, bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động hợp pháp của người dân, doanh nghiệp khi luật có hiệu lực.

nhandan.vn

Cùng chuyên mục