Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, tỉnh Quảng Ninh đã trở thành hình mẫu tiêu biểu trong việc cụ thể hóa các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã được Quảng Ninh tiếp nhận và chuyển hóa thành những hành động cụ thể, tạo ra sự chuyển dịch chiến lược trong tư duy và hành động. Với vai trò là cực tăng trưởng năng động và cửa ngõ giao thương huyết mạch, tỉnh xác định đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” nhằm kiến tạo nền tảng thể chế minh bạch, công bằng, khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển bền vững. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc củng cố nền tảng thể chế và đẩy mạnh hội nhập đã giúp Quảng Ninh không chỉ củng cố vị thế địa phương, mà còn góp phần thiết thực vào việc tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Đổi mới thể chế và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật
Với tinh thần đổi mới toàn diện tư duy, phương pháp và tổ chức thực hiện Nghị quyết 66-NQ/TW, Quảng Ninh đã đặt mục tiêu chiến lược: Đến năm 2030, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh đồng bộ, minh bạch, khả thi; và đến năm 2045, đạt chất lượng tiệm cận chuẩn mực quốc tế, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật trong toàn xã hội. Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu chấp hành, đồng thời người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng chính sách, gắn kết quả lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng pháp luật với công tác đánh giá, sử dụng cán bộ.
Nghị quyết số 66-NQ/TW được xác định là một trong “Bộ tứ trụ cột” có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, xây dựng pháp luật ở nước ta, tạo động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường. Đồng chí Mai Vũ Tuấn, Giám đốc Sở Tư pháp, cho biết: “Việc triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW trên địa bàn tỉnh mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm xây dựng hệ thống pháp luật của tỉnh một cách đồng bộ, khả thi, minh bạch, ổn định, lấy thực tiễn phát triển làm thước đo, có tính dự báo cao. Quá trình này sẽ dẫn dắt sự phát triển, tạo môi trường ổn định cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế và loại bỏ triệt để các rào cản do pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn gây ra. Việc triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW cũng nhằm “đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật”, chuyển từ tư duy "quản lý" sang "phục vụ", từ bị động sang chủ động, kiến tạo sự phát triển”.
Theo đồng chí Giám đốc Sở Tư pháp, công tác tổ chức thi hành pháp luật ngày càng nghiêm minh, công bằng, thực chất. Việc chuyển đổi số hiện đại hóa quy trình xây dựng và triển khai văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) ngày càng gắn liền với công khai, minh bạch, thuận tiện hóa tối đa cho người dân, doanh nghiệp. Thực hiện phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền rõ ràng, gắn với trách nhiệm giải trình, xóa bỏ cơ chế "xin - cho", triệt tiêu các lợi ích cục bộ và đặc quyền nhóm.
Triển khai Nghị quyết 66-NQ/TW, Quảng Ninh đã có sự phát triển và bổ sung thêm hai vấn đề mới được đặt ra trong mục tiêu đến năm 2030. Một là “bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động bình thường, liên tục, thông suốt của các cơ quan sau sắp xếp tổ chức bộ máy, tháo gỡ vướng mắc phát sinh từ thực tiễn”, đây là yêu cầu tất yếu để giải quyết những vấn đề phát sinh trong hệ thống pháp luật do sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp. Hai là, “mở đường cho kiến tạo phát triển, huy động mọi người dân và doanh nghiệp tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội”. Đây là điểm khác biệt rất lớn, thể hiện rất rõ quan điểm của tỉnh Quảng Ninh về đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật, chuyển từ tư duy "quản lý" sang "phục vụ", từ bị động sang chủ động, kiến tạo sự phát triển.
Để đạt được mục tiêu này, Quảng Ninh đã mạnh dạn từ bỏ tư duy quản lý cũ là “không quản được thì cấm”, chuyển sang tư duy mới, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Các quy định, chính sách mới đều xuất phát từ thực tiễn, đảm bảo tính ổn định, dễ hiểu, dễ thực hiện, đồng thời chú trọng phát huy vai trò của đạo đức xã hội, quy tắc nghề nghiệp, và quy tắc tự quản cộng đồng. Công tác nghiên cứu chính sách được triển khai “từ sớm, từ cơ sở, từ thực tiễn” thông qua việc tăng cường tổng kết, khảo sát, đánh giá tác động và lựa chọn chính sách một cách khoa học. Tỉnh đặc biệt coi trọng truyền thông chính sách, lấy sự đồng thuận xã hội làm thước đo hiệu quả, công khai, minh bạch các chính sách có tác động lớn, triệt để cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính bất hợp lý, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tạo động lực cho tăng trưởng.
Trong kỷ nguyên số, tỉnh tập trung hoàn thiện pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, khai thác nguồn lực dữ liệu và tài sản số. Song hành với đó là việc tích cực góp ý, đề xuất cơ chế vượt trội cho các khu kinh tế, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, tạo hành lang pháp lý mới cho phát triển. Đặc biệt, về cải cách thể chế bộ máy, Quảng Ninh hoàn thiện cơ sở pháp lý cho mô hình chính quyền hai cấp, gắn phân cấp, phân quyền mạnh mẽ với phương châm “địa phương quyết – địa phương làm – địa phương chịu trách nhiệm”.
Để đưa pháp luật vào cuộc sống, công tác thi hành pháp luật được gắn với mục tiêu phục vụ Nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tỉnh triển khai xây dựng “văn hóa tuân thủ pháp luật” và phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Ứng dụng công nghệ được coi là “đòn bẩy”, với việc xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, giúp kịp thời nhận diện và tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế. Quảng Ninh cũng tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm minh, kịp thời các vi phạm pháp luật, nhất là trong lĩnh vực tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, đồng thời khắc phục triệt để tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm của cán bộ.
Về nguồn lực, Quảng Ninh thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị mạnh mẽ khi thiết lập cơ chế tài chính đặc thù cho công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Tỉnh quy định tỷ lệ chi ngân sách dành cho lĩnh vực này không thấp hơn 0,5% tổng chi hằng năm, đồng thời tăng dần theo yêu cầu phát triển, bảo đảm phân bổ “kịp thời, đúng, đủ và gắn với sản phẩm cụ thể”. Đây không chỉ là sự đầu tư về nguồn lực, mà còn là minh chứng cho quan điểm nhất quán: đầu tư cho thể chế chính là đầu tư cho phát triển bền vững.
Cùng với đó, chính sách thu hút và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực pháp luật được ưu tiên hàng đầu. Quảng Ninh tiên phong hỗ trợ 100% tiền lương cho đội ngũ làm công tác nghiên cứu, xây dựng pháp luật, tạo động lực khích lệ đội ngũ chuyên gia, luật gia, cán bộ pháp chế không ngừng cống hiến, góp phần nâng tầm năng lực thể chế của địa phương.
Ở tầm đối ngoại, Quảng Ninh cũng chủ động mở rộng hợp tác pháp lý quốc tế, đặc biệt với Khu tự trị dân tộc Choang (Quảng Tây, Trung Quốc) theo Thỏa thuận hợp tác giữa hai Bộ Tư pháp Việt Nam – Trung Quốc, hướng tới xây dựng cơ chế hợp tác biên giới minh bạch, hiệu quả, phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Trong 7 tháng đầu năm 2025, Sở Tư pháp đã tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chương trình hành động số 50-CTr/TU ngày 9/6/2025; tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2161/QĐ-UBND ngày 23/6/2025 về kế hoạch triển khai Nghị quyết; ban hành theo thẩm quyền Kế hoạch số 51/KH-STP ngày 25/7/2025 để thực hiện trong toàn ngành Tư pháp. Sở Tư pháp đã tham mưu triển khai 5 đợt tổng rà soát, đề xuất phương án xử lý VBQPPL; trong đó đã rà soát 279 VBQPPL liên quan đến sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2012, 248 văn bản liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước trên địa bàn tỉnh, 46 quyết định về phân cấp, ủy quyền của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh; rà soát 115 nghị quyết của HĐND tỉnh còn hiệu lực thi hành; kiến nghị xử lý 82 quy định có mâu thuẫn, chồng chéo, không khả thi, tạo gánh nặng chi phí tuân thủ tại các VBQPPL của trung ương. Sở Tư pháp đã thẩm định 74 dự thảo VBQPPL, tham gia góp ý 50 đề nghị xây dựng và 70 dự thảo VBQPPL của tỉnh, 30 dự thảo của trung ương cùng nhiều hồ sơ khác; thực hiện tự kiểm tra 54 văn bản của UBND tỉnh được xác định hợp pháp, 52 văn bản của HĐND, UBND tỉnh được kiến nghị xử lý sau rà soát; 91 văn bản hết hiệu lực được công bố; cập nhật 71 văn bản vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tỉnh đã tổ chức ký kết, triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp với Sở Tư pháp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), đồng thời vận hành hiệu quả Hệ thống thông tin về phản ánh, kiến nghị VBQPPL của tỉnh. Trong thời gian tới, Sở Tư pháp sẽ tiếp tục tham mưu cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật trong năm 2025; xây dựng lộ trình hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp; hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh; chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh ban hành danh mục thẩm quyền trên từng lĩnh vực quản lý nhà nước; xây dựng kế hoạch tổng thể về sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới các nghị quyết quy phạm pháp luật của HĐND tỉnh.
Khai mở thế và lực mới từ hội nhập quốc tế
Nghị quyết 59-NQ/TW đã tạo ra một cú hích chiến lược, định hướng Quảng Ninh tập trung vào thu hút nguồn lực bên ngoài chất lượng cao, đồng thời nâng cao vị thế ngoại giao địa phương. Tỉnh Quảng Ninh đã thể hiện sự tiên phong và quyết tâm cao độ, lấy hội nhập kinh tế quốc tế phục vụ tối đa lợi ích phát triển bền vững của địa phương, đặc biệt trong hợp tác biên giới.
Minh chứng rõ nét cho thành công trong ngoại giao địa phương là việc Quảng Ninh chủ trì tổ chức thành công Chương trình “Gặp gỡ đầu Xuân 2025” giữa Bí thư Tỉnh ủy 4 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang) và Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc), cùng với Hội nghị lần thứ 16 Ủy ban công tác liên hợp. Sự kiện này thu hút gần 320 đại biểu, mở rộng sự hiện diện của thành phố Hải Phòng trong cơ chế hợp tác, và mang lại kết quả thiết thực với tổng cộng 29 thỏa thuận, biên bản hợp tác được ký kết trên nhiều lĩnh vực y tế, giao thông vận tải, thương mại, du lịch, nông nghiệp và quản lý lao động qua biên giới.
Riêng Quảng Ninh và Quảng Tây đã ký kết 11 thỏa thuận hợp tác, bao gồm Thỏa thuận khung hợp tác thí điểm xây dựng cửa khẩu thông minh Móng Cái (Việt Nam) - Đông Hưng (Trung Quốc) và thí điểm xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới Móng Cái - Đông Hưng. Đây là những cam kết mang tầm chiến lược, trực tiếp thể chế hóa mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế và liên kết vùng, mở ra cơ chế thông quan hàng hóa hiện đại, thu hút đầu tư, và tối ưu hóa chuỗi cung ứng khu vực. Những hành động quyết liệt này, cùng với Kế hoạch Hành động chung tay góp phần xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, đã củng cố nền tảng hòa bình, ổn định. Sự chủ động hội nhập, nhất là trong lĩnh vực biên mậu, đã giúp Quảng Ninh vượt qua những khó khăn do căng thẳng thương mại và đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu trong 06 tháng đầu năm 2025, tạo ra sự tăng trưởng ổn định và bền vững cho kinh tế tỉnh.
Trong quan hệ đối ngoại đa phương và song phương, Quảng Ninh đã thể chế hóa quan điểm của Trung ương thông qua Kế hoạch số 520-KH/TU ngày 07/4/2025 triển khai Kết luận số 125-KL/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, và Kế hoạch số 357-KH/TU ngày 14/12/2024 về thông tin đối ngoại. Tỉnh tiếp tục triển khai hiệu quả Thỏa thuận hợp tác đã ký với 3 tỉnh Bắc Lào, duy trì các hoạt động trao đổi đoàn, cung cấp chương trình học bổng, giáo dục, và sự tham gia của đoàn nghệ thuật tỉnh Hủa Phăn (với 20 người) tại Chương trình Carnaval Hạ Long 2025. Đồng thời, tỉnh thúc đẩy hợp tác với thành phố Sapporo (tỉnh Hokkaido, Nhật Bản), tham dự Triển lãm quốc tế EXPO 2025 tại Nhật Bản, và tích cực ký kết bản ghi nhớ với các thành phố Gwangju và Cheongju (Hàn Quốc) trong khuôn khổ Diễn đàn Thị trưởng GAROK, chú trọng rà soát hiệu quả triển khai các thỏa thuận hợp tác du lịch và đề xuất ký kết các thỏa thuận mới, ưu tiên các thị trường có tiềm năng, có nguồn khách lớn, có mức chi tiêu cao.
Về mặt thể chế, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2025, tỉnh đã ký mới 3 thỏa thuận quốc tế cấp tỉnh và cho phép các địa phương, ngành chức năng ký mới 19 thỏa thuận quốc tế trên các lĩnh vực đa dạng như hợp tác giao thông vận tải, cấp cứu xuyên biên giới, hợp tác nông nghiệp và quản lý lao động qua biên giới. Những thỏa thuận này là minh chứng cho việc thể chế hóa cam kết quốc tế và nâng cao năng lực cho các cơ quan quản lý nhà nước, thực hiện mục tiêu xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và phòng ngừa, ứng phó với các tranh chấp phát sinh trong quan hệ đầu tư, thương mại quốc tế theo đúng định hướng của Nghị quyết.
Đặc biệt, trước yêu cầu của kỷ nguyên mới, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2025-2030 đã xác định rõ phương châm phát triển: Lấy phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.
Từ đó, tỉnh đề cao quyết tâm chính trị để đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển tỉnh Quảng Ninh với mục tiêu chiến lược: Xây dựng Quảng Ninh giàu mạnh, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030, đến năm 2045 trở thành vùng đô thị lớn mang tầm khu vực và quốc tế, là một trong những đầu tàu kinh tế quan trọng của quốc gia, tự tin, vững vàng, tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới. Đặc biệt, đối với việc thực hiện Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế, Quảng Ninh đề cao trách nhiệm, quyết tâm chính trị, tinh thần tự giác, xác định hội nhập quốc tế là một động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo vệ quốc phòng an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, đổi mới, xây dựng tỉnh trở thành địa phương phát triển, hiện đại trong kỷ nguyên mới. Trong đó, tỉnh sẽ tận dụng tối đa vị trí địa lý để trở thành cửa ngõ thương mại ASEAN - Trung Quốc.
Đối với xây dựng, hoàn thiện thể chế, tỉnh đã đề nghị các bộ, ngành, địa phương liên quan tập trung đẩy nhanh việc xây dựng các đề án trọng tâm, trọng điểm như: Đề án cơ chế, chính sách thí điểm phát triển Khu kinh tế Vân Đồn và Khu hợp tác kinh tế ngành nghề qua biên giới Móng Cái - Đông Hưng có vai trò cho liên kết vùng và nâng cao năng lực cạnh tranh với các khu kinh tế của đảo Hải Nam và ven biển Quảng Tây - Trung Quốc đang diễn ra rất sôi động; Đề án phát triển khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại, mang tầm quốc tế, hàng đầu ở Đông Nam Á và là động lực phát triển của vùng.
Để hiện thực hóa tầm nhìn của tỉnh, theo nhận định của ông Phạm Hồng Điệp, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Shinec: Quảng Ninh là một địa phương hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời - địa lợi - nhân hòa” để thực hiện thành công Nghị quyết 59-NQ/TW. Về địa lý, tỉnh nằm giáp Trung Quốc, là cửa ngõ quan trọng kết nối ASEAN với Đông Á. Về tài nguyên, Quảng Ninh có Vịnh Hạ Long – Di sản Thiên nhiên Thế giới, cùng hệ sinh thái biển, rừng, khoáng sản phong phú. Quan trọng hơn, về con người – yếu tố quyết định – Quảng Ninh có một đội ngũ lãnh đạo quyết liệt, năng động và có tư duy cải cách rất mạnh mẽ. Và đây là thời điểm “vàng” để Quảng Ninh bứt phá.
Nhìn từ cấp cơ sở, đồng chí Dương Ngọc Khoa, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Hoành Mô, cho biết: Đảng bộ xã cũng xây dựng và triển khai Đề án Bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế trên địa bàn giai đoạn 2025 - 2030. Các giải pháp được đặt ra là tăng cường công tác nắm tình hình, tuần tra, quản lý đường biên, cột mốc, phát hiện ngăn chặn, xử lý kịp thời mọi tình huống, không để xảy ra bị động bất ngờ. Đồng thời, tăng cường công tác đối ngoại Nhân dân và hội nhập quốc tế trong tình hình mới theo Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị. Qua đó, tiếp tục phát huy, nâng cao hiệu quả mô hình kết nghĩa thôn - bản, xã - trấn hữu nghị; xây dựng đường biên giới hòa bình, hợp tác và phát triển; tăng cường trao đổi kinh nghiệm trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quản lý biên giới và giải quyết những vướng mắc trên biên giới, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội vùng biên giới phát triển.
Nhìn lại chặng đường triển khai hai Nghị quyết 66-NQ/TW và 59-NQ/TW, Quảng Ninh đã khẳng định rõ vai trò tiên phong trong cụ thể hóa các chủ trương lớn của Trung ương. Với tầm nhìn coi đổi mới thể chế là nền tảng chuyển đổi tư duy từ “quản lý” sang “phục vụ”, cùng tinh thần chủ động hội nhập quốc tế ở mọi cấp độ, tỉnh đã từng bước khơi thông các nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn, tạo lập môi trường phát triển bền vững. Sự chủ động trong thể chế, linh hoạt trong điều hành và thống nhất trong hành động đang tạo nên sức mạnh tổng hợp cho Quảng Ninh. Đây cũng là cơ sở để tỉnh tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong trong thực hiện các mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.