Bước tiến về công nghệ sản xuất của Than Vàng Danh

Từ một mỏ có điều kiện địa chất phức tạp, Công ty CP Than Vàng Danh - Vinacomin đã từng bước làm chủ và ứng dụng nhiều công nghệ khai thác, đào lò tiên tiến, tạo chuyển biến rõ nét về năng suất, an toàn và hiệu quả sử dụng tài nguyên. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp hiện thực hóa mục tiêu xây dựng mỏ xanh, mỏ sạch, mỏ hiện đại.

khai-truong-vdanh-vao-ca-3-anh-pham-cuong.jpg
Toàn cảnh ca 3 tại khai trường Công ty CP Than Vàng Danh - Vinacomin. Ảnh: Phạm Cường

Sau 62 năm xây dựng và phát triển, Công ty CP Than Vàng Danh - Vinacomin đã sản xuất hơn 80 triệu tấn than. Những năm gần đây, sản lượng khai thác than hầm lò của Công ty luôn duy trì trên 3 triệu tấn/năm, đưa Than Vàng Danh trở thành một trong những đơn vị có quy mô và sản lượng khai thác hầm lò lớn nhất Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). Đằng sau những con số về sản lượng là một quá trình đầu tư, đổi mới công nghệ diễn ra liên tục, đặc biệt trong khoảng 10 năm trở lại đây.

Ông Hồ Quốc, Phó Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty CP Than Vàng Danh, cho biết: Từ tư duy khai thác tài nguyên, Than Vàng Danh từng bước chuyển sang quản trị tài nguyên, lấy khoa học công nghệ, cơ giới hóa, tự động hóa và tin học hóa làm những động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong đó, dấu ấn rõ nét của Than Vàng Danh là việc chủ động nghiên cứu, lựa chọn và đưa vào áp dụng các công nghệ khai thác phù hợp với điều kiện địa chất phức tạp của mỏ.

Trong khai thác lò chợ, Công ty hiện áp dụng nhiều công nghệ, từ lò chợ chống giữ bằng giá thủy lực di động dạng khung đến công nghệ khai thác lò chợ chống giữ bằng giàn mềm ZRY và đặc biệt là công nghệ cơ giới hóa đồng bộ sử dụng giàn chống tự hành kết hợp máy khấu. Đối với các khu vực vỉa dốc nghiêng đến dốc đứng, công nghệ khấu lò chợ xiên chéo chống giữ bằng giàn mềm ZRY được Than Vàng Danh nghiên cứu, đầu tư và đưa vào áp dụng từ năm 2017. Đây là bước thay đổi quan trọng, từng bước thay thế công nghệ khấu buồng, góp phần nâng cao mức độ an toàn và năng suất lao động.

Hiện Công ty thường xuyên duy trì từ 2-4 lò chợ ZRY hoạt động đồng thời. Một số lò chợ đạt công suất thiết kế và lập năng suất kỷ lục của TKV, cho thấy hiệu quả của việc lựa chọn công nghệ theo sát điều kiện thực tế thay vì áp dụng máy móc một mô hình.

Đáng chú ý, năm 2018, Than Vàng Danh đưa vào hoạt động lò chợ cơ giới hóa đồng bộ sử dụng giàn chống ZFG4800/1.7/2.8 kết hợp máy khấu MG170/411-WD. Đến hết 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng khai thác từ hệ thống này đạt khoảng 4,6 triệu tấn.

Hiệu quả của công nghệ cũng được thể hiện rõ qua sản lượng hằng năm. Nếu như năm 2023, sản lượng than khai thác bằng công nghệ cơ giới hóa tăng xấp xỉ 50% kế hoạch năm; thì đến năm 2025 tỷ lệ này đã tăng trên 53% kế hoạch năm.

Cùng với dây chuyền cơ giới hóa đồng bộ, công nghệ khấu than chống giữ bằng giá thủy lực di động dạng khung vẫn giữ vai trò quan trọng. Đây được đánh giá là công nghệ phù hợp với điều kiện địa chất của Than Vàng Danh. Sản lượng từ các lò chợ giá khung hiện chiếm khoảng 40-41% tổng sản lượng khai thác hầm lò của Công ty. Việc duy trì thường xuyên 10-11 lò chợ ZH, trong đó có 1-2 lò chợ đạt công suất trên 200.000 tấn/năm, đã tạo một hệ thống công nghệ khai thác tương đối linh hoạt, đáp ứng yêu cầu sản xuất trong những điều kiện địa chất khác nhau.

Nếu khai thác là khâu quyết định sản lượng thì đào lò là công đoạn tạo diện sản xuất. Đây cũng là lĩnh vực Than Vàng Danh tập trung đẩy mạnh cơ giới hóa. Năm 2019, Công ty nghiên cứu và đưa máy đào lò EBH-45 đầu tiên trong TKV vào thi công các đường lò trong than. Đến nay, số lượng dây chuyền máy đào lò EBH-45 tại Công ty đã được nâng lên 4 dây chuyền.

bqn_tr_52308.jpg
Đào lò bằng máy EBH-45 tại Công ty CP Than Vàng Danh - Vinacomin.

Với trọng lượng khoảng 10 tấn, nhỏ gọn hơn đáng kể so với máy AM-50Z có trọng lượng khoảng 27 tấn, EBH-45 có khả năng cơ động cao. Thiết kế tay khấu dạng tay treo kéo dài cũng giúp máy linh hoạt hơn khi thi công các đường lò có tiết diện trung bình từ 9,4 m² trở lên.

Từ năm 2019 đến hết 6 tháng đầu năm 2026, tổng mét lò đào bằng máy EBH-45 đạt 14.256 m. Sản lượng đào lò cao nhất đạt 206 m/tháng, ngày cao nhất đạt 6,3 m/ngày. Năng suất lao động đạt 0,35 m/công/ca, cao hơn đáng kể so với mức 0,143 m/công/ca khi đào lò bằng khoan nổ mìn kết hợp máy xúc.

Đối với đào lò đá, Than Vàng Danh cũng từng bước chuyển từ phương thức thủ công sang bán cơ giới hóa. Dây chuyền sử dụng xe khoan một cần CMJ1-14 kết hợp máy xúc ZCY-60 được nghiên cứu, đầu tư và đưa vào sản xuất, góp phần cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao năng suất đào lò. Với tiết diện đào 17,8 m², năng suất bình quân của dây chuyền đạt khoảng 50 m/tháng, cao hơn 15 m/tháng so với phương thức khoan nổ mìn thủ công kết hợp xúc bằng máy xúc.

Ông Ngô Văn Cừ, Trưởng phòng Kỹ thuật - Công nghệ Mỏ, Công ty CP Than Vàng Danh - Vinacomin khẳng định: Những thay đổi trong công nghệ khai thác và đào lò đang tạo ra chuyển biến không chỉ về sản lượng mà còn về phương thức tổ chức sản xuất của Than Vàng Danh. Cơ giới hóa giúp giảm sức lao động trực tiếp, cải thiện điều kiện làm việc dưới hầm lò, đồng thời nâng cao độ ổn định của quá trình sản xuất. Khi thiết bị hiện đại được kết hợp với quản trị sản xuất, tin học hóa và từng bước tự động hóa, dữ liệu từ quá trình vận hành có thể trở thành cơ sở để doanh nghiệp điều hành chính xác hơn.

Đây cũng là hướng đi phù hợp với mục tiêu chuyển đổi mô hình quản trị của Than Vàng Danh: từ khai thác tài nguyên sang quản trị tài nguyên; từ dựa nhiều vào lao động trực tiếp sang tăng hàm lượng công nghệ; từ ưu tiên sản lượng sang đồng thời quan tâm đến an toàn, năng suất, tỷ lệ thu hồi tài nguyên và môi trường.

Với nền tảng công nghệ được tích lũy qua nhiều năm, Than Vàng Danh đang từng bước hình thành diện mạo một mỏ hiện đại, an toàn và hiệu quả, tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong hệ thống các đơn vị khai thác than hầm lò của TKV.

Hoàng Yến

Cùng chuyên mục