Quảng Ninh trong liên kết chiến lược vùng Bắc Bộ và đồng bằng sông Hồng

Quảng Ninh trong liên kết chiến lược vùng Bắc Bộ và đồng bằng sông Hồng

Quảng Ninh trong liên kết chiến lược vùng Bắc Bộ và đồng bằng sông Hồng

Sở hữu vị trí cửa ngõ phía Đông Bắc, tiếp giáp Trung Quốc, kết nối trực tiếp với Hải Phòng và nằm trong mạng lưới giao thương của vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh có nhiều lợi thế để phát huy vai trò đầu mối liên kết vùng. Hệ thống cao tốc, cảng biển, sân bay quốc tế và tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh đang mở thêm không gian phát triển, tăng khả năng kết nối hàng hóa, hành khách và các chuỗi giá trị kinh tế trong nước, quốc tế.

tp1-6026.jpg

Trong cấu trúc phát triển của Bắc Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh giữ vị trí đặc biệt nhờ hội tụ lợi thế về địa kinh tế, kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu và tài nguyên du lịch. Nằm ở phía Đông Bắc, cách Hà Nội khoảng 150km về phía Đông, Quảng Ninh vừa có quan hệ liên kết chặt chẽ với các trung tâm kinh tế lớn trong nước, vừa có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, tạo điều kiện mở rộng giao thương quốc tế.

thu-tuong-chinh-phu-le-minh-hung-cung-cac-dai-bieu-an-nut-khoi-cong-du-an-tuyen-duong-sat-toc-do-cao-ha-noi-quang-ninh-3572.jpg
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cùng các đại biểu ấn nút khởi công Dự án tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh.

Không gian phát triển của Quảng Ninh trải rộng trên các khu vực miền núi, trung du, đồng bằng ven biển và biển đảo. Sự đa dạng về địa hình gắn với nguồn tài nguyên khoáng sản, hệ thống cảng biển, các khu kinh tế và di sản văn hóa, thiên nhiên tạo nên lợi thế phát triển nhiều ngành kinh tế. Trong đó, Vịnh Hạ Long, quần thể di tích và danh thắng Yên Tử cùng hệ thống di sản, danh thắng trên địa bàn là nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch, dịch vụ và kinh tế di sản.

Trong liên kết vùng, Quảng Ninh cùng Hà Nội và Hải Phòng tạo thành tam giác phát triển quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Nếu Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế và dịch vụ lớn, Hải Phòng có thế mạnh về cảng biển, công nghiệp và logistics, thì Quảng Ninh có lợi thế kết hợp kinh tế cửa khẩu, kinh tế biển, công nghiệp, du lịch và dịch vụ. Sự bổ trợ này tạo điều kiện hình thành mạng lưới sản xuất, vận tải, thương mại và du lịch có phạm vi liên tỉnh, liên vùng.

cau-ben-rung-ket-noi-giua-quang-ninh-hai-phong-9531.jpg

Đặc biệt, Quảng Ninh là một trong những cửa ngõ ra biển quan trọng của các địa phương phía Bắc, trong đó có Bắc Ninh và Lạng Sơn. Hàng hóa công nghiệp từ các khu sản xuất có thể kết nối với hệ thống cảng biển để xuất nhập khẩu; ngược lại, mạng lưới giao thông liên vùng tạo điều kiện đưa nguyên liệu, hàng hóa và nông sản từ các địa phương đến thị trường tiêu thụ. Khi các tuyến vận tải được kết nối đồng bộ, doanh nghiệp có thêm lựa chọn về lộ trình, phương thức vận chuyển và tổ chức chuỗi cung ứng.

Vai trò cửa ngõ quốc tế của Quảng Ninh còn thể hiện qua hệ thống cửa khẩu, cảng biển và quan hệ giao thương với Trung Quốc. Cửa khẩu quốc tế Móng Cái là đầu mối quan trọng trong trao đổi hàng hóa giữa hai nước, đồng thời kết nối với mạng lưới vận tải trong nước. Các hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Nam Ninh - Bằng Tường - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh tạo cơ sở mở rộng lưu thông hàng hóa giữa các địa phương phía Bắc với thị trường Trung Quốc và các tuyến vận tải biển quốc tế.

htnggi1-1533.jpg
Hạ tầng giao thông đồng bộ giúp Quảng Ninh kết nối các khu kinh tế, khu công nghiệp, từng bước hình thành chuỗi sản xuất đồng bộ. (Ảnh: Dây chuyền lắp ráp của Nhà máy ô tô Thành Công Việt Hưng)

Với vị trí đó, yêu cầu đặt ra là Quảng Ninh phải phát huy tốt hơn năng lực kết nối giữa các khu kinh tế, khu công nghiệp, cửa khẩu, cảng biển và trung tâm du lịch. Liên kết vùng cần được cụ thể hóa bằng sự phối hợp trong quy hoạch giao thông, tổ chức vận tải, phát triển logistics và khai thác hạ tầng dùng chung, qua đó giảm chi phí lưu thông và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

tp2-399.jpg

Hệ thống giao thông đa phương thức là một trong những lợi thế nổi bật của Quảng Ninh trong liên kết vùng. Đường bộ, đường hàng không và đường biển đã hình thành mạng lưới kết nối tương đối đồng bộ; tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh đang được triển khai, hứa hẹn tạo thêm phương thức vận tải hiện đại, rút ngắn thời gian di chuyển giữa các trung tâm kinh tế.

cao-toc-van-don-mong-cai-di-vao-hoat-dong-tu-dau-thang-92022-la-co-hoi-cho-su-phat-trien-du-lich-cua-cac-dia-phuong-khu-vuc-mien-dong-anh-do-phuong-9297.jpg
Cao tốc Vân Đồn - Móng Cái đi vào hoạt động từ đầu tháng 9/2022, là cơ hội cho sự phát triển du lịch của các địa phương khu vực miền Đông. Ảnh Đỗ Phương

Trục cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái dài khoảng 176km chạy dọc địa bàn, kết nối Quảng Ninh với cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và các tuyến giao thông hướng về cửa khẩu. Đây là tuyến vận tải quan trọng đối với lưu thông hàng hóa, phát triển công nghiệp, thương mại biên giới và du lịch biển đảo. Cao tốc cũng kết nối các khu kinh tế Quảng Yên, Vân Đồn, Móng Cái, tạo điều kiện tăng cường liên hệ giữa các khu vực sản xuất, dịch vụ và đầu mối giao thương của địa phương. Theo quy hoạch giao thông của Quảng Ninh, tuyến cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái dài 176,2km, hiện khai thác với quy mô 4 làn xe.

Bên cạnh cao tốc, Quốc lộ 18 là trục giao thông quan trọng, kết nối các đô thị, khu công nghiệp và khu vực kinh tế ven biển của Quảng Ninh. Các tuyến Quốc lộ 10, Quốc lộ 17B góp phần kết nối khu vực phía Tây với Hải Phòng; Quốc lộ 4B liên kết với Lạng Sơn, trong khi Quốc lộ 279 phục vụ kết nối các khu vực trong tỉnh và những địa bàn lân cận. Mạng lưới này hỗ trợ vận chuyển than, vật liệu xây dựng, hàng công nghiệp và nông sản, đồng thời tạo điều kiện để các doanh nghiệp tiếp cận cảng biển và các trung tâm logistics.

bqn_br_5.jpg
Phối cảnh Quy hoạch tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh do Công ty CP Đầu tư và Phát triển đường sắt cao tốc Vinspeed đề xuất đầu tư.

Đối với khu vực phía Tây Quảng Ninh, liên kết giao thông với Hải Phòng có ý nghĩa trực tiếp trong phát triển công nghiệp, dịch vụ cảng biển và vận tải hàng hóa. Các khu công nghiệp tại Quảng Yên có điều kiện kết nối với mạng lưới cảng biển, đường cao tốc và các trung tâm sản xuất trong vùng. Ở phía Đông, cao tốc tạo thuận lợi cho giao thương qua Móng Cái, kết nối hoạt động xuất nhập khẩu với du lịch biển đảo và các dịch vụ cửa khẩu. Việc tổ chức tốt các điểm kết nối giữa đường cao tốc, quốc lộ, cảng biển và khu công nghiệp sẽ góp phần hạn chế vận chuyển vòng, giảm áp lực cho các tuyến đường đô thị và nâng cao hiệu quả logistics.

Trong vận tải hàng không, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn tạo thêm cửa ngõ kết nối Quảng Ninh với các thị trường trong nước và quốc tế. Sân bay được đầu tư với đường cất hạ cánh dài 3,6km, nhà ga hành khách có công suất thiết kế giai đoạn đầu 2,5 triệu lượt khách/năm. Định hướng nâng công suất lên 5 triệu lượt khách vào năm 2030 gắn với yêu cầu mở rộng mạng đường bay, thu hút khách quốc tế và tăng hiệu quả khai thác hạ tầng.

cang-hang-khong-quoc-te-van-don-mot-bieu-tuong-phat-trien-cua-dac-khu-1-2026-anh-dao-linh-5089.jpg
Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn.

Quảng Ninh định hướng phát triển Vân Đồn thành sân bay di sản, gắn với giá trị thiên nhiên, văn hóa của Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long, đồng thời nghiên cứu khả năng phát triển dịch vụ logistics hàng không. Nếu được triển khai đồng bộ với hệ thống đường bộ, cảng biển và các khu du lịch, sân bay có thể tăng khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp, mở rộng lựa chọn đi lại cho du khách và hỗ trợ vận chuyển những nhóm hàng phù hợp với đường hàng không.

Cùng với hàng không, hệ thống cảng biển giữ vai trò quan trọng trong kết nối kinh tế Quảng Ninh với các địa phương phía Bắc và thị trường quốc tế. Cảng Cái Lân là đầu mối phục vụ vận chuyển hàng hóa, xuất nhập khẩu; cảng tàu khách quốc tế Hạ Long phục vụ hoạt động du lịch biển, đón khách quốc tế đến tham quan Vịnh Hạ Long. Các cảng biển, bến tàu và dịch vụ hậu cần hàng hải tạo điều kiện phát triển logistics, vận tải hàng hóa và du lịch tàu biển.

ha-tang-khu-vuc-loi-thong-quan-cua-khau-cau-bac-luan-ii-duoc-dau-tu-dong-bo-hien-dai-1481.jpg
Hạ tầng khu vực lối thông quan cửa khẩu cầu Bắc Luân II được đầu tư đồng bộ, hiện đại.

Để phát huy hiệu quả lợi thế này, Quảng Ninh cần tăng cường kết nối giữa cảng biển với các khu công nghiệp, cửa khẩu, sân bay và trung tâm phân phối hàng hóa. Việc phát triển dịch vụ kho bãi, vận tải đa phương thức, giao nhận và các dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu sẽ góp phần nâng cao giá trị gia tăng của hoạt động cảng biển, thay vì chỉ dừng ở khâu vận chuyển hàng hóa.

Một dấu mốc mới trong kết nối liên vùng là dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh, được khởi công ngày 12/4/2026. Dự án dài 120,2km, đi qua Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ninh, có tổng mức đầu tư hơn 147.000 tỷ đồng, tương đương hơn 5,6 tỷ USD, chưa bao gồm chi phí giải phóng mặt bằng. Tuyến được thiết kế đường đôi, khổ ray 1.435mm, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ tối đa 350km/h; dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2028. Khi đưa vào khai thác theo kế hoạch, thời gian di chuyển giữa Hà Nội và Quảng Ninh dự kiến còn khoảng 23 phút.

Tuyến đường sắt đi qua bốn địa phương, kết nối các trung tâm dân cư, kinh tế và du lịch, tạo thêm lựa chọn vận tải hành khách tốc độ cao. Đối với Quảng Ninh, công trình có thể mở rộng thị trường khách du lịch, tăng khả năng kết nối với Hà Nội và các địa phương trong vùng, đồng thời tạo điều kiện hình thành các hoạt động dịch vụ gắn với nhà ga và các khu vực phụ cận. Để khai thác hiệu quả tuyến đường sắt, việc tổ chức giao thông kết nối nhà ga với đô thị, sân bay, cảng tàu khách, khu du lịch và các trung tâm dịch vụ cần được tính toán đồng bộ.

phoi-canh-du-an-ben-cang-tong-hop-van-ninh-duoc-dau-tu-xay-dung-tren-dien-tich-8279ha-tai-xa-van-ninh-tp-mong-cai-9928.jpg
Phối cảnh dự án Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh được đầu tư xây dựng trên diện tích 82,79ha, tại xã Vạn Ninh, TP Móng Cái.

Khi cao tốc, đường sắt tốc độ cao, cảng biển và hàng không cùng phát huy hiệu quả, Quảng Ninh có điều kiện tổ chức lại dòng lưu chuyển hàng hóa, hành khách và dịch vụ trong phạm vi rộng hơn. Tuy nhiên, hạ tầng chỉ tạo ra lợi thế khi được khai thác gắn với nhu cầu thực tế. Việc phối hợp giữa các địa phương trong quy hoạch, phát triển logistics, thu hút đầu tư và kết nối chuỗi cung ứng sẽ quyết định khả năng chuyển lợi thế giao thông thành giá trị kinh tế.

Trong giai đoạn tới, Quảng Ninh cần tiếp tục phát huy vai trò đầu mối kết nối giữa vùng đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc với thị trường quốc tế; tăng cường hợp tác với Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Lạng Sơn và các địa phương liên quan trong phát triển hạ tầng, công nghiệp, thương mại, du lịch và logistics. Cùng với đó, cần gắn mở rộng không gian kinh tế với bảo vệ môi trường, gìn giữ di sản và nâng cao chất lượng đô thị.

Với vị trí cửa ngõ, hệ thống giao thông đa phương thức và khả năng kết nối thị trường trong nước, quốc tế, Quảng Ninh có điều kiện tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị của vùng Bắc Bộ và đồng bằng sông Hồng. Phát huy tốt vai trò này sẽ giúp địa phương mở rộng không gian phát triển, đồng thời đóng góp thiết thực vào tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn vùng.

Thực hiện: Thu Nguyên
Trình bày: Vũ Đức

Cùng chuyên mục