Trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Quảng Ninh đứng trước yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng và tạo lập những động lực đủ mạnh cho giai đoạn mới. Mô hình “3 cực - 4 chuyển đổi - 5 động lực” được Quảng Ninh lựa chọn không chỉ là sự sắp xếp lại các vùng chức năng, mà còn thể hiện bước chuyển căn bản từ phát triển dựa nhiều vào tài nguyên, đầu tư và các ngành truyền thống, sang phát triển đa trung tâm, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế biển và hội nhập quốc tế.
Điểm đáng chú ý nhất trong mô hình tăng trưởng mới của thành phố Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là tư duy tổ chức lại không gian theo hướng đa trung tâm, đa cực, đa lớp, đa tầng. Thay vì để các khu vực phát triển tương đối độc lập, mô hình mới xác lập 3 cực không gian tăng trưởng, gồm: Vân Đồn - Cực kinh tế biển và dịch vụ cao cấp; Móng Cái - Cực thương mại biên giới, đô thị kinh tế cửa khẩu và hội nhập quốc tế; Quảng Yên - Cực công nghiệp và logistics. 3 cực này tạo thành tam giác “Sản xuất - Dịch vụ - Thương mại quốc tế”, có khả năng bổ trợ, lan tỏa lẫn nhau và giúp Quảng Ninh giảm dần sự phụ thuộc vào một ngành hoặc một khu vực tăng trưởng đơn lẻ.
Đây là sự lựa chọn phù hợp với lợi thế cạnh tranh đặc thù của Quảng Ninh. Ít địa phương nào đồng thời sở hữu đường biên giới trên bộ, không gian biển rộng, hệ thống cửa khẩu quốc tế, cảng biển, sân bay, cao tốc và các khu kinh tế có vị trí chiến lược như Quảng Ninh. Nếu mỗi lợi thế tiếp tục được khai thác riêng lẻ, giá trị tạo ra sẽ có giới hạn. Nhưng khi được kết nối thành một hệ thống, cảng biển Quảng Yên có thể phục vụ các trung tâm sản xuất; Vân Đồn có thể phát triển logistics hàng không, dịch vụ cao cấp và kinh tế biển; Móng Cái đảm nhiệm vai trò cửa ngõ thương mại quốc tế. Khi đó, dòng hàng hóa, dòng vốn, lao động, khách du lịch và công nghệ sẽ vận động liên tục giữa các cực, tạo ra hiệu ứng cộng hưởng lớn hơn tổng giá trị của từng khu vực riêng biệt.
Trong cấu trúc ấy, Quảng Yên được xác định là cực công nghiệp và logistics. Đây không chỉ là nơi bố trí thêm các nhà máy, khu công nghiệp, mà phải trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao, cảng biển, logistics, dịch vụ kinh tế biển và công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh và vùng Bắc Bộ. Giá trị lớn nhất của Quảng Yên nằm ở khả năng kết nối trực tiếp với thành phố Hải Phòng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, hệ thống cảng biển và mạng lưới cao tốc.
Móng Cái lại có lợi thế hoàn toàn khác. Vị trí cửa ngõ giao thương với Trung Quốc giúp khu vực này có khả năng trở thành trung tâm logistics, thương mại biên giới, XNK và hợp tác kinh tế xuyên biên giới. Tuy nhiên, mục tiêu không thể dừng ở tăng lượng hàng hóa qua cửa khẩu. Giá trị cần hướng tới là phát triển các trung tâm phân phối, kho ngoại quan, chế biến sâu, thương mại điện tử xuyên biên giới, dịch vụ tài chính, bảo hiểm, kiểm định và các mô hình cửa khẩu thông minh.
Trong khi đó, Vân Đồn được định vị là cực kinh tế biển và dịch vụ cao cấp, đồng thời là trung tâm đổi mới sáng tạo, thương mại tự do, logistics hàng không - hàng hải và nơi thử nghiệm cơ chế, chính sách mới. Đây là lợi thế mang tính khác biệt của Quảng Ninh. Với sân bay quốc tế, hệ thống cảng biển, tài nguyên du lịch biển đảo, cùng vị trí nằm trong không gian vịnh Bắc Bộ, Vân Đồn có điều kiện phát triển du lịch chất lượng cao, kinh tế ban đêm, dịch vụ tài chính, đổi mới sáng tạo, y tế, giáo dục và các loại hình kinh tế mới.
Kiến trúc sư Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam, chia sẻ: Điểm mạnh của mô hình 3 cực không nằm ở việc lựa chọn 3 địa bàn có nhiều lợi thế nhất, mà ở khả năng thiết lập mối quan hệ chức năng giữa các địa bàn. Nếu được liên kết bằng hạ tầng đồng bộ và cơ chế điều phối thống nhất, 3 cực này sẽ tạo ra cấu trúc kinh tế đa trụ, có sức chống chịu tốt hơn trước biến động.
Cùng với 3 cực tăng trưởng, không gian của thành phố Quảng Ninh được tổ chức theo cấu trúc "3 hành lang phát triển - 4 vùng kinh tế, xã hội - 5 trung tâm động lực". 3 hành lang gồm hành lang đô thị ven biển, hành lang biển đảo và hành lang sinh thái đồi núi. 4 vùng gồm vùng phía Tây, vùng phía Đông, vùng biển đảo và vùng đồi núi phía Bắc. 5 trung tâm động lực gồm đô thị trung tâm Hạ Long, đặc khu Vân Đồn, khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Di sản Yên Tử.
Cấu trúc này cho thấy Quảng Ninh không chỉ đặt trọng tâm vào những khu vực đô thị, công nghiệp và dịch vụ phát triển, mà còn dành vị trí rõ ràng cho vùng biển đảo, miền núi, biên giới và không gian sinh thái. Hành lang đô thị ven biển sẽ kết nối chuỗi đô thị, công nghiệp, dịch vụ, logistics và cảng biển từ Hạ Long đến Móng Cái. Hành lang biển đảo mở không gian cho kinh tế biển tổng hợp, du lịch, nuôi biển công nghệ cao, năng lượng tái tạo và bảo vệ chủ quyền. Hành lang sinh thái đồi núi tạo điều kiện phát triển lâm nghiệp bền vững, nông nghiệp, du lịch cộng đồng và bảo tồn đa dạng sinh học.
Nếu 3 cực trả lời câu hỏi Quảng Ninh sẽ phát triển ở đâu, thì 4 chuyển đổi nền tảng và 5 động lực chủ đạo sẽ đưa ra giải pháp phát triển cho địa phương. 4 chuyển đổi gồm: Chuyển dịch cơ cấu ngành và lĩnh vực; chuyển đổi về khoa học, công nghệ; chuyển đổi không gian phát triển theo hướng hình thành các cực tăng trưởng, tăng cường liên kết và lan tỏa; chuyển đổi thể chế, quản trị địa phương theo hướng hiện đại.
Trước hết là chuyển dịch cơ cấu ngành, lĩnh vực. Quảng Ninh cần tiếp tục giảm dần mức độ phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, chuyển mạnh sang công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, logistics, kinh tế biển, du lịch chất lượng cao, kinh tế số và công nghiệp văn hóa. Quá trình này đòi hỏi sự chuyển đổi đồng bộ trong từng doanh nghiệp. Công nghiệp phải gắn với sản xuất thông minh, tiết kiệm năng lượng và kinh tế tuần hoàn. Du lịch phải chuyển từ tăng số lượng khách sang kéo dài thời gian lưu trú và mức chi tiêu. Logistics phải vượt khỏi hoạt động vận tải, kho bãi đơn thuần để tích hợp công nghệ, thương mại điện tử, tài chính và quản trị chuỗi cung ứng. Nông nghiệp và nuôi biển phải gắn với công nghệ cao, chế biến, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ hai là chuyển đổi về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. khoa học, công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo là công cụ nâng cấp toàn bộ nền kinh tế; các chỉ tiêu chuyển đổi số phải được gắn với từng ngành như chế biến, chế tạo, du lịch và logistics. Đây là yếu tố quyết định khả năng đạt tốc độ tăng trưởng cao mà không tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào đất đai, lao động phổ thông và khai thác tài nguyên.
Chuyển đổi thứ ba là không gian phát triển. Việc hình thành các cực, hành lang và vùng chỉ tạo ra kết quả khi có sự kết nối thực chất. Vì vậy, các dự án đường sắt, cao tốc, cảng biển, sân bay, hạ tầng năng lượng và logistics phải được nhìn nhận như một mạng lưới thống nhất. Hạ tầng không chỉ rút ngắn khoảng cách địa lý, mà còn giảm chi phí của doanh nghiệp, mở rộng thị trường lao động và làm tăng giá trị đất đai, dịch vụ, sản xuất tại các khu vực mà tuyến giao thông đi qua.
Chuyển đổi thứ tư là thể chế và quản trị địa phương hiện đại. Khi Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, quy mô không gian và khối lượng công việc sẽ lớn hơn, quan hệ giữa các khu vực phát triển phức tạp hơn. Vì thế, bộ máy quản lý phải chuyển từ xử lý công việc theo địa giới và thủ tục sang quản trị dựa trên dữ liệu, kết quả đầu ra và trách nhiệm rõ ràng.
Để những yếu tố trên được phát huy hiệu quả, Quảng Ninh xác định 5 động lực, đó là: Thể chế và cơ chế đặc thù; hạ tầng chiến lược; huy động và dẫn dắt nguồn lực; đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tổ chức không gian và hệ sinh thái phát triển.
Theo ông Nguyễn Văn Nhân, Tổng Giám đốc Công ty CP Đô thị Amata Hạ Long, nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến ưu đãi, mà quan tâm nhiều hơn đến tính ổn định của quy hoạch, thời gian giải quyết thủ tục hành chính, chất lượng hạ tầng và khả năng kết nối thị trường. Mô hình “3 cực - 4 chuyển đổi - 5 động lực” sẽ tạo niềm tin nếu Quảng Ninh cụ thể hóa bằng danh mục dự án, lộ trình thực hiện và đầu mối chịu trách nhiệm rõ ràng.
Khi Quảng Yên thực sự trở thành trung tâm công nghiệp, logistics; Móng Cái phát huy vai trò cửa ngõ thương mại quốc tế; Vân Đồn vươn lên thành trung tâm kinh tế biển và dịch vụ cao cấp; Hạ Long giữ vai trò đô thị trung tâm; Yên Tử được phát huy như trung tâm văn hóa, công nghiệp di sản, Quảng Ninh sẽ tạo được một cấu trúc phát triển cân bằng hơn, linh hoạt hơn và có sức cạnh tranh cao hơn trong giai đoạn phát triển mới.
Thực hiện: Mạnh Trường
Trình bày: Vũ Đức