Bình đẳng giới luôn là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng trong đường lối, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở đó, Quảng Ninh đã nghiêm túc triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 11-NQ/TW, Chỉ thị số 21-CT/TW của Bộ Chính trị, Luật Bình đẳng giới và các chương trình, đề án, chiến lược, chính sách về bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ. Qua đó, nhằm thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước, của tỉnh.
Bám sát thực tiễn, cụ thể hóa chủ trương
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm sâu sắc tới công tác phụ nữ, quyền bình đẳng và sự tiến bộ của phụ nữ. Người kêu gọi “phải kính trọng phụ nữ, chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng gái trai đều ngang quyền bình đẳng như nhau”. Không chỉ khẳng định vị thế của phụ nữ, Bác cũng quan tâm khích lệ, động viên phụ nữ tự tin, nỗ lực vươn lên, phát huy khả năng để đóng góp cho xã hội. Người căn dặn: “Phụ nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật” và “Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh”.
Tư tưởng đó đã trở thành nền tảng xuyên suốt trong quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới. Trong thời kỳ đổi mới, các nghị quyết của Đảng, chỉ thị của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cùng hệ thống pháp luật về bình đẳng giới ngày càng được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý và động lực để phụ nữ phát triển toàn diện, tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tại Quảng Ninh, thực tiễn phát triển đặt ra những yêu cầu đặc thù. Là địa phương có địa bàn rộng, nhiều khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, một số nơi trước đây từng được xem là “vùng trũng” của bình đẳng giới do điều kiện KT-XH còn khó khăn, nhận thức chưa đồng đều, định kiến giới và tập quán lạc hậu còn tồn tại. Cơ hội tiếp cận giáo dục, việc làm, thông tin của phụ nữ, nhất là phụ nữ dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế; các vấn đề như tảo hôn, bất bình đẳng trong gia đình, nguy cơ bạo lực trên cơ sở giới vẫn hiện hữu.
Từ thực tiễn đó, tỉnh xác định công tác phụ nữ và bình đẳng giới không chỉ là nhiệm vụ xã hội, mà còn là một nội dung quan trọng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KT-XH, xây dựng hệ thống chính trị và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Bám sát chủ trương của Trung ương và thực tế địa phương, Quảng Ninh đã triển khai đồng bộ Luật Bình đẳng giới; Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ, Chỉ thị số 21-CT/TW của Ban Bí thư về công tác phụ nữ trong tình hình mới; đồng thời thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai đoạn 2021-2030, Chương trình truyền thông về bình đẳng giới đến năm 2030, Chương trình phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn 2021-2025…
Đặc biệt, giai đoạn 2021-2025, Quảng Ninh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách liên quan trực tiếp đến phụ nữ và bình đẳng giới, trong đó có các nghị quyết của HĐND tỉnh, như: Nghị quyết số 16/2021/NQ-HĐND về phát triển vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới; Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND về trợ giúp xã hội; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐND về hỗ trợ bảo hiểm xã hội tự nguyện; Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND về hỗ trợ phụ nữ, trẻ em yếu thế. Công tác bình đẳng giới cũng được lồng ghép hiệu quả vào các chương trình phát triển KT-XH, tiêu biểu như: Dự án 8 “Thực hiện Bình đẳng giới và giải quyết các vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em”; chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Nghị quyết số 06-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh; đề án “Hỗ trợ hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý và tạo việc làm cho lao động nữ đến năm 2030"... Các chính sách, chương trình này tập trung vào nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, nhất là phụ nữ vùng khó khăn, qua đó góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các khu vực.
Tỉnh cũng đã bố trí nguồn lực cho công tác bình đẳng giới và phòng chống bạo lực trên cơ sở giới với tổng kinh phí trên 14,2 tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2025. Đồng thời, tích cực huy động nguồn lực từ các tổ chức quốc tế, triển khai nhiều dự án thiết thực như hỗ trợ sức khỏe sinh sản cho phụ nữ dân tộc thiểu số, hỗ trợ nữ công nhân, phòng chống mua bán người, mô hình “Ngôi nhà Ánh Dương” hỗ trợ nạn nhân bạo lực giới…
Theo ông Hoàng Bá Hướng (Phó Giám đốc Sở Nội vụ, Phó Trưởng ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh Quảng Ninh), với vai trò là cơ quan thường trực Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh, Sở đã chủ trì, phối hợp với các sở, ngành tổ chức nhiều đoàn kiểm tra liên ngành tại các địa phương, đơn vị. Từ năm 2021 đến tháng 5/2025, đã thực hiện 1 cuộc thanh tra, 66 cuộc kiểm tra tại doanh nghiệp và nhiều đợt giám sát liên quan đến lao động nữ, tiền lương, điều kiện làm việc, phòng chống quấy rối tại nơi làm việc, chăm sóc sức khỏe cho lao động nữ... Qua kiểm tra, nhiều vấn đề đã được kịp thời chấn chỉnh, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ. Thời gian tới, công tác kiểm tra, giám sát tiếp tục được tăng cường theo hướng trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực, địa bàn, doanh nghiệp có đông lao động nữ hoặc tiềm ẩn nguy cơ phát sinh vấn đề liên quan đến quyền của phụ nữ; đồng thời chú trọng hướng dẫn, hỗ trợ để các quy định về bình đẳng giới được thực hiện thực chất, hiệu quả.
Phát huy vai trò phụ nữ trong phát triển
Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ và nhất quán, vị thế của phụ nữ Quảng Ninh ngày càng được khẳng định rõ rệt trên nhiều lĩnh vực. Theo bà Vũ Thị Vui, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Đầm Hà, những năm qua, công tác cán bộ nữ tại địa phương cũng như trên toàn tỉnh luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện từ cấp ủy, chính quyền các cấp. Trước thời điểm thực hiện sắp xếp, điều chỉnh đơn vị hành chính, bản thân bà đã được cơ quan, chi bộ, đặc biệt là Ban Thường vụ Huyện ủy và Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đầm Hà (trước đây) chú trọng bồi dưỡng, tạo môi trường thuận lợi để trưởng thành. Trong cuộc bầu cử đại biểu HĐND xã nhiệm kỳ 2026-2031, bà tiếp tục nhận được sự tín nhiệm của cử tri, tái đắc cử đại biểu HĐND xã Đầm Hà.
Thực tiễn tại Đầm Hà cho thấy tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy và các cơ quan dân cử ngày càng gia tăng. Ban Chấp hành Đảng bộ xã hiện có 5/27 đồng chí nữ (18,52%); HĐND xã nhiệm kỳ 2026-2031 có 6/20 đại biểu nữ (30%). Những con số này không chỉ phản ánh sự quan tâm trong công tác cán bộ nữ, mà còn khẳng định vai trò, vị thế ngày càng được nâng cao của phụ nữ trong hệ thống chính trị cơ sở.
Bà Vũ Thị Vui chia sẻ, thực tiễn cho thấy khi hội tụ bản lĩnh, năng lực và sự sáng tạo, được minh chứng bằng kết quả công việc cụ thể, phụ nữ luôn có cơ hội được ghi nhận, đánh giá công bằng. Tuy nhiên, ở những địa bàn còn nhiều khó khăn, để đạt được sự ghi nhận đó, phụ nữ thường phải nỗ lực nhiều hơn, vừa chu toàn gia đình, vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ xã hội, không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ và kiên trì khẳng định mình bằng hiệu quả công việc. Chính quá trình ấy đã chứng minh rằng, khi được tin tưởng và tạo điều kiện, phụ nữ hoàn toàn có thể đảm đương tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Tại xã Bình Liêu, địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh, phụ nữ cũng ngày càng được tạo điều kiện thuận lợi để tham gia sâu rộng vào công tác chính trị, quản lý nhà nước và giữ các vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị. Hiện, xã có tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy khá cao. Ban Chấp hành Đảng bộ xã có 14/27 (51,85%) đồng chí nữ, trong đó Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Bình Liêu là nữ. Nhiệm kỳ 2026-2031, HĐND xã có 10/22 đại biểu là nữ.
Bà Hoàng Thị Dung, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Bình Liêu, chia sẻ: Các cấp Hội Phụ nữ ở cơ sở giữ vai trò quan trọng trong tuyên truyền, vận động, phát hiện và bồi dưỡng nguồn cán bộ nữ; đồng thời là chỗ dựa để hội viên, phụ nữ nâng cao nhận thức, tự tin tham gia công tác xã hội và khẳng định năng lực trong thực tiễn. Từ thực tế địa phương cho thấy, khi phụ nữ được tạo điều kiện học tập, rèn luyện và được đồng hành kịp thời, chị em hoàn toàn có thể đảm nhận tốt nhiều vị trí, đóng góp tích cực vào hệ thống chính trị ở cơ sở.
Thời gian qua, các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị trong tỉnh luôn quan tâm đến công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và bổ nhiệm cán bộ nữ, coi đây là một nội dung quan trọng trong công tác cán bộ, đồng thời là giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy các cấp đạt 27,67%, nữ đại biểu HĐND các cấp đạt 36,1%. Toàn tỉnh có 9.568 nữ được kết nạp Đảng, chiếm 45,7% tổng số đảng viên mới.
Đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức chiếm 75,12% tổng số, là lực lượng tích cực trong cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Tính đến tháng 9/2025, 68,7% cơ quan hành chính cấp tỉnh có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Trong giai đoạn này, tỉnh đã bổ nhiệm 39 cán bộ nữ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý chủ chốt; đồng thời triển khai hàng trăm lớp bồi dưỡng với hơn 26.000 lượt học viên, góp phần nâng cao năng lực, bản lĩnh chính trị và kỹ năng quản lý cho đội ngũ nữ cán bộ.
Bình đẳng giới chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đo bằng những thay đổi trong đời sống. Ở Quảng Ninh, cùng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các cấp Hội Phụ nữ đã góp phần làm cho mục tiêu ấy trở nên cụ thể hơn qua từng phong trào, từng hoạt động ở cơ sở. Bà Nguyễn Vũ Thu Hòa, Chủ tịch Hội LHPN tỉnh, chia sẻ: “Các cấp Hội đã đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, bám sát nhiệm vụ chính trị và yêu cầu phát triển của địa phương để triển khai các phong trào thi đua, cuộc vận động và nhiệm vụ trọng tâm của Hội. Trọng tâm là hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, chăm lo gia đình, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Điều đáng mừng là từ các phong trào, hoạt động cụ thể, ngày càng nhiều phụ nữ mạnh dạn hơn trong học tập, lao động, sáng tạo, khởi nghiệp và tham gia công việc xã hội. Để những chuyển biến ấy đi sâu hơn vào đời sống, điều quan trọng vẫn là tiếp tục làm thay đổi nhận thức, từ trong mỗi gia đình đến cộng đồng”.