Giai đoạn 1976-1995, ngành Than trải qua nhiều biến động với những khó khăn kéo dài sau ngày đất nước thống nhất và những thách thức khi chuyển sang cơ chế thị trường. Bằng tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”, đội ngũ thợ mỏ cùng các đơn vị từng bước tháo gỡ khó khăn, sắp xếp lại sản xuất, lập lại trật tự quản lý và đưa sản lượng than sạch tăng từ 3,8 triệu tấn năm 1992 lên hơn 7 triệu tấn năm 1995.
Kiên trì vượt khó để giữ dòng than
Ngay sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, ngành Than bước vào giai đoạn khôi phục và phát triển sản xuất trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn, hậu quả chiến tranh nặng nề, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư hạn chế. Thực hiện các kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980) và lần thứ ba (1981-1985), ngành phải đối mặt với nhiều trở ngại về điều kiện khai thác, thiết bị, vốn đầu tư và tổ chức sản xuất.
Sau nhiều năm khai thác, tài nguyên ở những khu vực thuận lợi dần suy giảm. Các mỏ lộ thiên phải bóc đất đá với khối lượng lớn mới tiếp cận được những vỉa than có chất lượng tốt, trong khi thiết bị hiện đại thiếu, năng lực cơ giới hóa còn hạn chế, cung độ vận chuyển xa khiến chi phí sản xuất tăng cao. Sản lượng và chất lượng than vì thế không đáp ứng yêu cầu, hiệu quả kinh doanh thấp, đời sống công nhân gặp nhiều khó khăn.
Những hạn chế của cơ chế quản lý cũ càng làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thiếu linh hoạt. Khi Nhà nước từng bước giao quyền chủ động và trách nhiệm cho các xí nghiệp quốc doanh, ngành Than phải tự tìm cách cân đối nguồn lực, tổ chức lao động, bảo đảm đầu vào và đầu ra trong điều kiện vốn đầu tư thiếu hụt. Đây là thách thức lớn đối với một ngành công nghiệp cần nguồn vốn lớn, chu kỳ đầu tư dài và phụ thuộc nhiều vào điều kiện khai trường.
Từ năm 1985, hoạt động khai thác, thu gom và mua bán than trên địa bàn Quảng Ninh diễn biến phức tạp. Bên cạnh các đơn vị được Nhà nước giao nhiệm vụ sản xuất theo kế hoạch, nhiều lực lượng khác tham gia khai thác, trong đó có hoạt động khai thác trái phép tại các khu vực lộ vỉa, bãi thải; lấy trộm than từ kho mỏ, toa xe và các điểm trung chuyển. Các bãi than tự phát, đầu nậu thu mua và bến cảng nhỏ xuất hiện, hình thành thị trường mua bán sôi động nhưng khó kiểm soát.
Tình trạng khai thác trái phép gây thất thoát tài nguyên, làm rối loạn thị trường và kéo theo nhiều vấn đề về an ninh, trật tự. Trong khi đó, cung vượt cầu khiến than tồn kho, ứ đọng; một số nhà máy, xí nghiệp chuyển sang mua than tư nhân với giá thấp hơn, gây thêm sức ép cho các đơn vị sản xuất thuộc Nhà nước.
Đứng trước khó khăn đó, ngành Than đã thống nhất quan điểm một mặt phải chấp nhận cạnh tranh để tồn tại, mặt khác, phải bảo toàn lực lượng chuẩn bị cho bước phát triển sau này. Từ quan điểm đó, ngành đã đưa ra những chủ trương, giải pháp căn cơ nhằm thực hiện cơ cấu, sắp xếp tổ chức bộ máy và phương thức sản xuất kinh doanh.
Bước vào thực hiện cơ cấu, sắp xếp tổ chức bộ máy, với sự đồng tâm vượt khó, ngành Than kiên quyết không sa thải công nhân, nhất là công nhân kỹ thuật. Tăng cường mở các mỏ nhỏ, lộ vỉa, tận thu, gom nhặt, sàng lại các nguồn bã sàng, bãi thải cũ, ven biển để giải quyết công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa. Đồng thời, tích cực thu mua lại các nguồn than của nhân dân, nhất là than cục. Bốn mỏ lộ thiên: Hà Tu, Đèo Nai, Cọc Sáu, Cao Sơn sản xuất mức độ cầm chừng, trọng tâm là khai thác nguồn than tốt có giá trị cao để xuất khẩu. Sở dĩ phải sản xuất cầm chừng vì hệ số bóc đất cao, cung độ vận chuyển xa nên giá thành cao. Vì vậy, nếu bán với giá thấp sẽ không bù đắp được lỗ cho thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và châu Âu (Bỉ, Thụy Điển, Đan Mạch, Pháp...).
Đồng thời, ngành Than cũng nâng dần giá bán than trong nước ngang với giá thành để không lỗ, tiến dần tới giá thành bán xuất khẩu để có lãi. Công ty Than Cẩm Phả là đơn vị khởi xướng đầu tiên, kiên trì thực hiện và được thị trường chấp nhận. Từ sáng kiến này, lãnh đạo ngành Than đã chỉ đạo triển khai các hình thức tổ chức kinh doanh đa ngành để phá thế “độc canh” như: tổ sản xuất xi măng, kinh doanh dịch vụ khách sạn, liên doanh với các đơn vị, địa phương sản xuất bia... Cũng từ đây, chủ trương của ngành Than chuyển mạnh ngành cơ khí sang chế tạo (4 tự lực), nâng cao trình độ, đổi mới công nghệ được Đảng và Nhà nước quan tâm, khích lệ.
Đổi mới để phục hồi và phát triển
Tháng 12/1986, Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối Đổi mới, mở ra bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý và phát triển kinh tế. Với ngành Than, yêu cầu đổi mới đặt ra trực tiếp ở phương thức tổ chức sản xuất, cơ chế tài chính, quản lý lao động và tiêu thụ sản phẩm. Các đơn vị phải chủ động hơn trong kinh doanh, tự cân đối thu chi, nâng hiệu quả khai thác và từng bước thích ứng với những quy luật của thị trường.
Trước đó, tháng 9/1986, Tổng Bí thư Trường Chinh gặp mặt đại biểu cán bộ, công nhân ngành Than, nhấn mạnh vai trò của than đối với nền công nghiệp đất nước, coi than là “lương thực của công nghiệp”. Trên địa bàn Quảng Ninh, Ban Chấp hành Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TU, phát động chiến dịch sản xuất than “Quyết thắng”, huy động các đơn vị tập trung khôi phục sản xuất. Tháng 1/1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đến thăm, làm việc tại mỏ Cọc 6, yêu cầu phát huy quyền làm chủ của công nhân, đẩy mạnh sản xuất và tháo gỡ những khó khăn trong tổ chức lao động.
Những chỉ đạo này khẳng định vị trí của ngành Than trong nền kinh tế, đồng thời đặt ra yêu cầu phải chuyển biến cả trong quản lý lẫn tổ chức sản xuất. Tuy nhiên, đường hướng đổi mới không thể lập tức khắc phục những bất cập đã tích tụ qua nhiều năm. Năm 1987, sản lượng than sạch đạt khoảng 5,9 triệu tấn, tiêu thụ 5,8 triệu tấn. Cuộc khủng hoảng lương thực những năm 1987-1988 tiếp tục đẩy đời sống thợ mỏ vào cảnh thiếu thốn. Tại Cẩm Phả, Cửa Ông, Dương Huy, nhiều gia đình công nhân phải ăn cháo, độn sắn qua ngày. Những người lao động trực tiếp làm việc trong điều kiện nặng nhọc vẫn phải lo từng bữa ăn, trong khi phương tiện phục vụ sản xuất và điều kiện sinh hoạt còn thiếu.
Trong hoàn cảnh đó, ngành Than chủ trương không sa thải công nhân, nhất là đội ngũ công nhân kỹ thuật; đồng thời tìm việc làm từ những nguồn tài nguyên có thể tận thu và mở rộng các hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp. Việc chuyển cơ khí từ sửa chữa đơn thuần sang chủ động chế tạo thiết bị, phụ tùng theo hướng tự lực cũng được chú trọng, nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài, tiết kiệm chi phí và nâng năng lực phục vụ sản xuất.
Ngành Than từng bước điều chỉnh phương thức kinh doanh, giảm phụ thuộc vào khai thác than đơn thuần. Một số đơn vị tổ chức thêm hoạt động sản xuất xi măng, kinh doanh dịch vụ khách sạn, liên doanh với địa phương và doanh nghiệp để sản xuất bia, phát triển các dịch vụ liên quan. Những cách làm này nhằm tạo thêm nguồn thu, phân tán rủi ro và duy trì việc làm trong thời điểm thị trường than mất cân đối.
Năm 1990, Quảng Ninh cho phép thành lập các công trường than nhân dân tại Hòn Gai, Cẩm Phả, Uông Bí, Hoành Bồ và Đông Triều, khai thác than lộ vỉa, thu hồi than tại các bãi thải. Chủ trương này vừa tận dụng nguồn tài nguyên còn có thể sử dụng, vừa tạo thêm việc làm cho người lao động. Trong giai đoạn 1986-1990, toàn ngành khai thác khoảng 24,5 triệu tấn than sạch, trong đó xuất khẩu 2,3 triệu tấn.
Theo số liệu tổng kết giai đoạn này, sản lượng khai thác trong các năm 1988-1990 đạt khoảng 7,5-8 triệu tấn/năm; riêng năm 1990, sản lượng than sạch đạt 4.218.000 tấn, bằng 75% kế hoạch. Lượng than tiêu thụ đạt 4.090.700 tấn, bằng 58,4% kế hoạch; xuất khẩu 576.500 tấn, cao hơn 11,9% so với năm 1985. Khối lượng bóc đất đá năm 1990 đạt 13.141.000m³, bằng 37,4% kế hoạch. Những con số này cho thấy khoảng cách lớn giữa yêu cầu sản xuất và năng lực thực tế, đồng thời phản ánh sức ép về vốn, thiết bị và thị trường mà ngành Than phải giải quyết.
Dù kết quả chưa đạt kế hoạch, quá trình chuyển đổi đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong cách điều hành sản xuất, kinh doanh. Năm 1989, ngành Than tự cân đối được thu, chi; trong hai năm 1989-1990, số nộp ngân sách nhà nước bằng 5,5% tổng doanh thu toàn ngành. Việc từng bước tự chủ tài chính đánh dấu chuyển biến quan trọng trong tư duy kinh tế, buộc các đơn vị phải tính đúng chi phí, nâng hiệu quả sản xuất và chủ động tìm thị trường tiêu thụ.
Bước sang giai đoạn 1991-1995, yêu cầu cấp thiết là khắc phục tình trạng khai thác trái phép, thất thoát tài nguyên và những bất cập trong lưu thông, tiêu thụ than. Quảng Ninh phối hợp với Bộ Năng lượng tháo gỡ khó khăn về tài chính, tăng cường quản lý hoạt động khai thác, vận chuyển và kinh doanh, đấu tranh với tình trạng khai thác than trái phép. Việc lập lại trật tự quản lý góp phần bảo vệ tài nguyên, hạn chế cạnh tranh thiếu lành mạnh và tạo điều kiện để các đơn vị sản xuất chính thức ổn định hoạt động.
Quá trình phục hồi diễn ra từng bước. Năm 1991, xuất khẩu than đạt khoảng 1,2 triệu tấn. Năm 1992, sản lượng than sạch đạt 3,8 triệu tấn, lượng tiêu thụ đạt 4,1 triệu tấn, trong đó xuất khẩu khoảng 1,364 triệu tấn; sản lượng than địa phương đạt 447.000 tấn. Đến năm 1994, sản lượng than sạch đạt khoảng 5,6 triệu tấn. Năm 1995, con số này vượt 7 triệu tấn, trong đó xuất khẩu hơn 2,7 triệu tấn. Than tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế Quảng Ninh, tạo việc làm cho đông đảo lao động, đóng góp ngân sách và thúc đẩy các ngành vận tải, cảng biển, cơ khí, sửa chữa thiết bị cùng những dịch vụ phục vụ sản xuất.
Một dấu mốc quan trọng là ngày 10/10/1994, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam. Việc hình thành đầu mối tổ chức ở cấp tổng công ty tạo điều kiện tập trung nguồn lực, thống nhất điều hành và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh trong toàn ngành, mở đường cho việc liên kết các khâu khai thác, sàng tuyển, vận chuyển và tiêu thụ, tạo nền tảng để ngành Than phát triển theo hướng quy mô và đồng bộ hơn.
Đối với Quảng Ninh, quá trình phục hồi của ngành Than có ý nghĩa trực tiếp đối với việc làm, thu nhập của người lao động và hoạt động kinh tế trên địa bàn. Những năm 1976-1995 cho thấy, muốn duy trì và phát triển một ngành công nghiệp chủ lực, cần có cơ chế quản lý phù hợp, phương thức kinh doanh hiệu quả, kỷ cương trong khai thác và thị trường tiêu thụ ổn định. Những người thợ mỏ cùng các đơn vị đã vượt qua giai đoạn khó khăn bằng tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”, kiên trì giữ lực lượng sản xuất, tìm cách làm mới và từng bước đưa ngành Than trở lại quỹ đạo tăng trưởng.