Trong không gian phát triển mới, Quảng Ninh đang đứng trước cơ hội hội tụ và phát huy mạnh hơn các lợi thế về biển, đảo, biên giới, cửa khẩu, công nghiệp, logistics, du lịch, dịch vụ và đô thị. Những kết quả đạt được trong 8 tháng năm 2026 đang tạo nền tảng quan trọng để thành phố bước vào chặng đường mới với yêu cầu cao hơn về tốc độ tăng trưởng, chất lượng phát triển và năng lực cạnh tranh.
Trong hơn 40 năm đổi mới, Quảng Ninh từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên sang phát triển đa ngành, đa lĩnh vực; từ tư duy phát triển theo địa giới sang mở rộng liên kết vùng và hội nhập quốc tế. Hệ thống cao tốc, cảng biển, sân bay, cửa khẩu, khu kinh tế, khu công nghiệp và các đô thị được đầu tư trong nhiều năm đã tạo nên một nền tảng hạ tầng quan trọng để không gian phát triển mới có thể vận hành với quy mô lớn hơn.
Đáng chú ý là không gian ấy không chỉ rộng hơn về địa lý, mà còn đa dạng hơn về các nguồn lực và động lực tăng trưởng. Nếu trước đây từng địa bàn được nhìn nhận chủ yếu từ lợi thế riêng, thì trong cấu trúc thành phố mới, giá trị lớn hơn nằm ở khả năng bổ trợ và cộng hưởng giữa các khu vực.
Hàng hóa từ các khu công nghiệp có thể kết nối với cảng biển và cửa khẩu; dòng khách du lịch có thể được mở rộng từ Hạ Long đến Yên Tử, Vân Đồn, Cô Tô, Móng Cái và các vùng miền núi; kinh tế biển có thể gắn với công nghiệp, logistics, dịch vụ và KHCN. Đây chính là điều kiện để Quảng Ninh chuyển từ khai thác lợi thế đơn lẻ sang tổ chức các chuỗi giá trị trên một không gian thống nhất.
Kết quả kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2026 cho thấy nền tảng của không gian phát triển mới đang được củng cố. Đến hết tháng 8, tổng thu NSNN đạt 73.031 tỷ đồng, bằng 98,82% dự toán Trung ương giao; thu nội địa đạt 60.459 tỷ đồng và thu từ hoạt động XNK đạt 12.572 tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn đầu tư trong nước ngoài ngân sách đạt 182.732 tỷ đồng với 67 dự án được cấp mới; vốn FDI thu hút từ đầu năm vượt 1,1 tỷ USD, nâng tổng số dự án FDI còn hiệu lực lên 237 dự án, với tổng vốn đăng ký gần 16 tỷ USD.
Những con số này cho thấy một nền kinh tế có quy mô và khả năng huy động nguồn lực ngày càng lớn. Tuy nhiên, trong không gian phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là thu hút thêm nguồn lực, mà quan trọng hơn là làm cho nguồn lực được chuyển hóa nhanh hơn thành năng lực sản xuất, hạ tầng, dịch vụ và giá trị gia tăng.
Thành phố đã điều chỉnh kịch bản tăng trưởng GRDP quý III lên 15,41%, 9 tháng đạt 12,56% và cả năm là 13,21%. Điều đó đặt ra yêu cầu rất cao đối với tiến độ các dự án, giải ngân đầu tư công, sản xuất công nghiệp, dịch vụ và khả năng khai thác những dư địa tăng trưởng hiện có.
Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng. Sau nhiều năm thu hút các dự án quy mô lớn, Quảng Ninh đang chuyển mạnh sang lựa chọn những dự án có công nghệ, giá trị gia tăng và sức lan tỏa cao.
Cùng với các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, 9 dự án đầu tư hạ tầng khu công nghiệp đang được triển khai trên diện tích hơn 4.300ha, tổng vốn đăng ký khoảng 31.881 tỷ đồng và 220,34 triệu USD. Việc mở rộng quỹ đất công nghiệp có hạ tầng không chỉ tạo thêm dư địa thu hút đầu tư, mà còn mở ra cơ hội hình thành những chuỗi sản xuất gắn với logistics, cảng biển và dịch vụ.
Trong khi đó, du lịch đang cho thấy khả năng tạo giá trị ngày càng lớn từ lợi thế di sản. 8 tháng năm 2026, Quảng Ninh đón gần 17,1 triệu lượt khách, tăng 6% so cùng kỳ năm 2025; khách lưu trú đạt gần 6,6 triệu lượt, tăng 10%; tổng thu du lịch đạt trên 51.000 tỷ đồng, tăng 23%. Đáng chú ý, trong 5 ngày nghỉ lễ Quốc khánh, thời điểm thành phố chính thức bước vào không gian phát triển mới, Quảng Ninh đón khoảng 568.000 lượt khách, tổng thu ước 1.800 tỷ đồng, tăng 84% so cùng kỳ.
Đằng sau kết quả ấy là sự chuyển động từ khai thác đơn thuần tài nguyên du lịch sang tổ chức hệ sinh thái dịch vụ, sản phẩm và trải nghiệm. Vịnh Hạ Long, Yên Tử, Vân Đồn, Cô Tô, Móng Cái và các vùng văn hóa bản địa đang được đặt trong những hành trình liên kết rộng hơn. Việc hoàn thiện Đề án phát triển kinh tế di sản, sản phẩm du lịch đêm và công nghiệp văn hóa thành phố Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cho thấy hướng đi mới, biến giá trị di sản thành nguồn lực phát triển lâu dài, đồng thời gia tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách.
Ở khu vực cửa khẩu, cảng biển và logistics, lợi thế địa kinh tế tiếp tục mở ra dư địa lớn. Tuy nhiên, kết quả thu ngân sách từ hoạt động XNK trong 8 tháng là 12.572 tỷ đồng mới đạt 68,82% kịch bản 9 tháng và 50,29% kế hoạch cả năm, cũng cho thấy dư địa này chưa được khai thác tương xứng.
Để dòng hàng tạo ra nhiều giá trị hơn tại địa phương, thành phố cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống cảng biển, kho bãi, logistics, kết nối cửa khẩu - cảng biển - khu công nghiệp và nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ. Khi hàng hóa không chỉ đi qua địa bàn, mà được lưu kho, vận chuyển, thông quan và sử dụng các dịch vụ ngay tại Quảng Ninh, giá trị tạo ra cho nền kinh tế sẽ được mở rộng hơn nhiều so với nguồn thu từ hoạt động thông quan.
Không gian mới cũng đòi hỏi Quảng Ninh thay đổi cách nhìn về các động lực tăng trưởng. Cùng với công nghiệp, du lịch, thương mại và dịch vụ, KHCN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế dữ liệu và kinh tế xanh đang được xác định là những động lực quan trọng.
Thành phố đã dành nguồn lực ngày càng lớn cho KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; riêng 8 tháng năm 2026, chi cho lĩnh vực này đạt 291,7 tỷ đồng, tăng 5,3 lần so cùng kỳ năm 2025. Hạ tầng số, dữ liệu và các nền tảng số vì thế đang được đặt song hành với hạ tầng giao thông, đô thị và sản xuất.
Đó cũng là cơ sở để Quảng Ninh nghiên cứu những mô hình phát triển mới, trong đó có Đề án khu kinh tế số và tri thức tự do. Nếu được cấp có thẩm quyền cho phép triển khai, mô hình này có thể tạo không gian tập trung cho công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, bán dẫn, nghiên cứu - phát triển, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô đầu tư, mà ở cách tiếp cận “thể chế đi trước”, tạo điều kiện thử nghiệm những mô hình kinh doanh, công nghệ và dịch vụ mới trong phạm vi pháp luật cho phép.
Cùng với kinh tế, không gian phát triển mới đặt con người ở vị trí trung tâm. Trong 8 tháng năm 2026, thành phố đã dành 4.290 tỷ đồng chi cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 96,4% dân số; hệ thống hồ sơ sức khỏe điện tử đã lưu trữ dữ liệu của hơn 1,41 triệu người dân. Những con số này cho thấy tăng trưởng đang được đặt trong mối quan hệ với chất lượng sống, an sinh xã hội và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân.
Đây cũng là thước đo quan trọng của một thành phố đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Thành phố lớn không chỉ cần một nền kinh tế lớn, mà cần năng lực quản trị tương xứng; không chỉ mở rộng đô thị, mà phải tạo dựng môi trường sống tốt hơn; không chỉ thu hút vốn, mà phải thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao; không chỉ phát triển nhanh, mà phải bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa.
Trong cấu trúc “3 cực - 4 chuyển đổi - 5 động lực”, yêu cầu xuyên suốt đối với Quảng Ninh là tổ chức lại các nguồn lực trên một không gian thống nhất, khắc phục sự chia cắt theo địa giới và phát huy tối đa lợi thế bổ trợ giữa các vùng. Đó là quá trình chuyển từ “có lợi thế” sang “có năng lực cạnh tranh”; từ “có nguồn lực” sang “tạo ra giá trị”; từ phát triển từng khu vực sang hình thành một hệ sinh thái kinh tế - đô thị - dịch vụ - văn hóa có khả năng liên kết sâu với vùng và quốc tế.
Những kết quả đạt được trong 8 tháng năm 2026 cho thấy Quảng Ninh đã có một nền tảng đủ lớn về hạ tầng, kinh tế, nguồn lực đầu tư và chất lượng dịch vụ. Nhưng không gian phát triển càng rộng thì yêu cầu quản trị càng cao; động lực càng đa dạng thì càng cần một cơ chế điều phối thống nhất; quy mô nền kinh tế càng lớn thì càng phải chú trọng chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh.
Từ vị thế mới, Quảng Ninh có điều kiện để mở rộng hơn nữa không gian liên kết với vùng Đồng bằng sông Hồng, hành lang kinh tế phía Bắc, các trung tâm kinh tế lớn trong nước và thị trường quốc tế. Những tuyến giao thông, cửa khẩu, cảng biển, khu công nghiệp, đô thị, vùng biển và di sản không còn là những cấu phần riêng biệt, mà đang được đặt trong một chỉnh thể phát triển thống nhất.