Australia phê duyệt khu vực lưu trữ CO2 dưới đáy biển cho doanh nghiệp Nhật Bản

Chính phủ Australia vừa phê duyệt một khu vực dưới đáy biển gần bờ biển phía bắc nước này, tạo điều kiện để Tập đoàn năng lượng Inpex của Nhật Bản xúc tiến dự án thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), với công suất lưu trữ tối đa 443 triệu tấn CO2 trong thời gian lên tới 35 năm. Dự án làm dấy lên tranh luận về hiệu quả giảm phát thải khí nhà kính cũng như nguy cơ tác động tiêu cực đến hệ sinh thái biển.

ccsnhatban.jpg
Những người lướt sóng chuẩn bị đón sóng tại bãi biển Kujukuri-hama, phía xa là khu vực khoan thăm dò phục vụ Dự án thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) vùng đô thị Tokyo, tại thị trấn Kujukuri, tỉnh Chiba, Nhật Bản, ngày 22/10/2026. Ảnh: AP

CCS (Carbon capture and storage) là công nghệ thu giữ khí CO2 từ các hoạt động công nghiệp, sau đó vận chuyển và đưa xuống các tầng địa chất sâu để lưu trữ lâu dài, thay vì thải trực tiếp vào khí quyển. CO2 là một trong những khí nhà kính chính gây biến đổi khí hậu.

Những người ủng hộ cho rằng công nghệ này có thể góp phần giảm phát thải trong các ngành khó chuyển đổi sang năng lượng sạch như sản xuất thép, xi măng, lọc dầu và vận tải biển. Một số chính phủ cùng các tập đoàn năng lượng lớn, trong đó có Exxon Mobil và Shell, coi CCS là giải pháp hỗ trợ quá trình chuyển đổi năng lượng.

Bên cạnh đó, nhiều nhà khoa học và tổ chức môi trường cũng lo ngại mở rộng CCS có thể khiến các doanh nghiệp tiếp tục phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, thay vì đẩy nhanh quá trình cắt giảm sử dụng than đá, dầu mỏ và khí đốt.

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đánh giá CCS là một trong những công cụ hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, theo kịch bản phát thải ròng bằng 0 của cơ quan này, công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon dự kiến chỉ đóng góp chưa tới 5% tổng mức cắt giảm phát thải vào năm 2050.

Hiện nhiều quốc gia đang triển khai các dự án CCS. Mỹ đã đưa một số cơ sở vào hoạt động, trong khi Liên minh châu Âu (EU) khai trương cơ sở lưu trữ CO2 ngoài khơi đầu tiên vào tháng 9 vừa qua.

Dự án lưu trữ CO2 quy mô lớn ngoài khơi Australia

Theo kế hoạch, dự án của Tập đoàn năng lượng Inpex (Nhật Bản) sẽ bắt đầu từ thành phố Darwin, thủ phủ Vùng lãnh thổ Bắc Australia, ven biển Timor. Hệ thống vận chuyển CO2 sẽ kéo dài khoảng 260 km ra ngoài khơi, đưa khí xuống tầng chứa nước mặn nằm sâu dưới đáy biển có tên West Peron.

Inpex cho biết khách hàng chính của dự án sẽ là cơ sở sản xuất khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) Ichthys gần đó. Tập đoàn Nhật Bản nắm cổ phần chi phối tại cơ sở này và xuất khẩu phần lớn sản lượng khí sang Nhật Bản. Trong tương lai, các doanh nghiệp khác cũng có thể sử dụng khu vực West Peron để lưu trữ CO2.

Tuy nhiên, xác định khu vực lưu trữ mới chỉ là một bước trong quá trình triển khai. Inpex vẫn phải hoàn thành các đánh giá tác động môi trường và xin thêm giấy phép từ Chính phủ Australia trước khi đưa ra quyết định đầu tư cuối cùng và bắt đầu bơm CO2 xuống lòng đất.

Bộ trưởng Tài nguyên Australia Madeleine King đánh giá việc phê duyệt khu vực lưu trữ là bước tiến quan trọng, thể hiện sự ủng hộ của chính phủ đối với các công nghệ giảm phát thải. Bà nhấn mạnh công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm phát thải tại những ngành công nghiệp khó khử carbon, đồng thời hỗ trợ Australia tiến tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0.

Lo ngại tác động đối với hệ sinh thái biển

Trong khi Chính phủ Australia ủng hộ dự án, các tổ chức môi trường cảnh báo hoạt động xây dựng và vận hành cơ sở lưu trữ CO2 có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển, ven biển và trên đất liền.

Khu vực dự án nằm trong phạm vi sinh sống hoặc di cư của nhiều loài động vật cần bảo vệ, trong đó có bò biển, rùa biển và các loài chim biển. Bà Chelsea Deng, đại diện Hiệp hội Bảo tồn Biển Australia, cho biết hoạt động nạo vét, khoan và đóng cọc dưới biển có thể làm xáo trộn trầm tích, gây ô nhiễm nguồn nước do hóa chất và tạo ra tiếng ồn lớn dưới nước.

Bà cho rằng khi dự án đi vào hoạt động, lưu lượng tàu thuyền gia tăng sẽ tiếp tục gây xáo trộn môi trường sống của các loài sinh vật biển. Ngoài ra, doanh nghiệp phải thường xuyên khảo sát địa chấn dưới nước để theo dõi sự di chuyển của CO2 và phát hiện nguy cơ rò rỉ. Các xung địa chấn có thể gây ảnh hưởng đến cá voi và nhiều sinh vật khác.

Bà Deng cũng dẫn các nghiên cứu cho thấy những xung địa chấn có thể khiến sinh vật phù du chết ở khoảng cách lên tới 1,2 km. Hoạt động giám sát này có thể kéo dài hàng chục năm trong suốt thời gian vận hành dự án.

Nhật Bản coi CCS là công nghệ quan trọng để đạt mục tiêu khí hậu

Nhật Bản đặt mục tiêu giảm 60% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2035 và 73% vào năm 2040 so với mức năm 2013. Tuy nhiên, nền kinh tế nước này vẫn phụ thuộc lớn vào nhiên liệu hóa thạch. Các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng như sản xuất thép, xi măng, lọc dầu và vận tải biển tiếp tục giữ vai trò quan trọng.

Chính phủ Nhật Bản cho rằng CCS là giải pháp cần thiết để giảm phát thải tại những lĩnh vực khó chuyển đổi hoàn toàn sang điện hoặc nhiên liệu hydro.

Trong tài liệu công bố năm 2025, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản nhận định CCS có thể hỗ trợ giảm phát thải trong những ngành khó sử dụng các nguồn năng lượng thay thế nhiên liệu hóa thạch, qua đó góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, duy trì tăng trưởng kinh tế và thực hiện mục tiêu giảm phát thải.

Ngoài dự án tại Australia, các doanh nghiệp Nhật Bản đang triển khai nhiều dự án CCS khác. Ngoài khơi tỉnh Chiba, Inpex phối hợp với Nippon Steel và một số đối tác triển khai dự án thu giữ CO2 từ các nhà máy thép tại khu vực đô thị Tokyo và lưu trữ dưới đáy biển. Một doanh nghiệp Nhật Bản khác cũng có kế hoạch vận chuyển CO2 sang Malaysia để lưu trữ.

Các tổ chức môi trường tiếp tục phản đối việc mở rộng công nghệ này. Cũng theo bà Chelsea Deng, đại diện Hiệp hội Bảo tồn Biển Australia, một số doanh nghiệp nhiên liệu hóa thạch đang sử dụng CCS như biện pháp tạo hình ảnh thân thiện với môi trường, qua đó tiếp tục duy trì hoạt động gây ô nhiễm thay vì giảm sản lượng và từng bước loại bỏ nhiên liệu hóa thạch.

Tranh luận xung quanh dự án tại Australia cho thấy thách thức trong quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu: vừa phải giảm phát thải tại những ngành công nghiệp khó thay thế nhiên liệu hóa thạch, vừa bảo đảm các giải pháp công nghệ không gây thêm tổn hại cho môi trường và không làm chậm quá trình phát triển năng lượng sạch.

Phương Loan (Theo AP)

Cùng chuyên mục