Đổi mới ứng dụng KHCN trong ngành Than

Ngành Than đang từng bước đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất. Qua đó, góp phần cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn cho người lao động, hướng tới phát triển hiện đại, xanh và bền vững.

bqn_tr_696522438-1565003665441460-3060475290184138775-n.jpg
Hoạt động sản xuất tại lò chợ cơ giới hóa hạng nhẹ BM5-1, vỉa 5 Thành Công, Công ty Than Hòn Gai.

Những năm qua, thay vì phụ thuộc nhiều vào lao động thủ công, các đơn vị ngành Than đang từng bước đầu tư thiết bị cơ giới hóa đồng bộ, tự động hóa các khâu sản xuất, ứng dụng công nghệ số trong giám sát và điều hành.

Định hướng này gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đồng thời cụ thể hóa chiến lược “3 hóa” của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, gồm cơ giới hóa, tự động hóa và tin học hóa. Trọng tâm là lựa chọn công nghệ phù hợp với điều kiện địa chất, đặc điểm từng mỏ; tăng khả năng làm chủ thiết bị, giảm sức lao động thủ công, nâng cao năng suất và kiểm soát tốt hơn các nguy cơ mất an toàn.

Một trong những minh chứng rõ nét cho hiệu quả đổi mới công nghệ là tại Công ty Than Hòn Gai, khi đơn vị đưa lò chợ cơ giới hóa hạng nhẹ BM5-1, vỉa 5 Thành Công vào vận hành từ ngày 15/5/2026. Đây là lò chợ cơ giới hóa đầu tiên của công ty, được đầu tư với công suất thiết kế 300.000-350.000 tấn than/năm, đánh dấu bước tiến trong hiện đại hóa khai thác than hầm lò.

Điểm nổi bật của dây chuyền là các khâu khai thác chính được cơ giới hóa đồng bộ, thay thế phương thức sản xuất trước đây còn sử dụng nhiều lao động thủ công. Qua vận hành thực tế, công nghệ mới giúp giảm hơn 30% lao động so với phương thức cũ, trong khi năng suất khai thác tăng hơn 80%; sản lượng tại lò chợ đạt khoảng 40.000 tấn than/tháng. Những kết quả bước đầu cho thấy việc lựa chọn công nghệ phù hợp có thể tạo ra chuyển biến rõ rệt về năng suất và tổ chức sản xuất.

Không chỉ tăng sản lượng, cơ giới hóa còn tạo điều kiện để giảm sức lao động trực tiếp tại những khâu nặng nhọc, cải thiện không gian và điều kiện làm việc dưới hầm lò. Từ kết quả bước đầu tại lò chợ BM5-1, Công ty Than Hòn Gai tiếp tục định hướng nghiên cứu, đầu tư các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế.

Cùng với cơ giới hóa khai thác, Than Hòn Gai chú trọng ứng dụng công nghệ trong đào lò, vận tải, giám sát và điều khiển tự động; từng bước kết nối dữ liệu, cải tiến quy trình quản lý từ công ty đến các công trường, phân xưởng. Đây là cơ sở để nâng cao chất lượng điều hành, giảm chi phí và tăng khả năng kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất.

Trong thời gian tới, để KHCN thực sự trở thành động lực phát triển, ngành Than tiếp tục ưu tiên những công nghệ mang lại hiệu quả trực tiếp, phù hợp với điều kiện địa chất và yêu cầu sản xuất của từng đơn vị; đẩy mạnh tự động hóa các khâu có nguy cơ mất an toàn, tăng cường kết nối dữ liệu và ứng dụng công nghệ số trong quản trị. Đồng thời, chú trọng đào tạo nhân lực, khuyến khích sáng kiến cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ và gắn hiệu quả đầu tư với các chỉ tiêu về năng suất, an toàn, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường.

Trong giai đoạn 2026-2030, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam xác định đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa, chuyển đổi số, hướng tới xây dựng mỏ thông minh, nhà máy thông minh; đồng thời phát triển năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ. Theo kế hoạch chuyển đổi số, Tập đoàn tập trung chuẩn hóa dữ liệu, phát triển kho dữ liệu lớn, mở rộng ứng dụng hệ thống báo cáo thông minh (BI), trí tuệ nhân tạo (AI) và các công cụ phân tích, dự báo phục vụ quản trị, điều hành. Các hệ thống lõi như ERP, MES, Smart Mine, Smart Plant sẽ được triển khai đồng bộ hơn, gắn với đầu tư hạ tầng điện toán đám mây, bảo đảm an toàn thông tin và phát triển nhân lực số…

Nguyễn Thanh

Cùng chuyên mục