Ngành Than và hành trình từ "nâu" sang "xanh"

Hơn 6 thập kỷ đồng hành cùng quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh Quảng Ninh, ngành Than không chỉ giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng, đóng góp ngân sách và tạo việc làm, mà còn góp phần hình thành bản sắc văn hóa vùng mỏ. Trong hành trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, ngành Than đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, với chuyển đổi xanh và chuyển đổi số trở thành những động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm tác động môi trường và hướng tới phát triển bền vững.

Thợ mỏ Công ty Than Hạ Long thể hiện tinh thần
Thợ mỏ Công ty Than Hạ Long thể hiện tinh thần "Kỷ luật và Đồng tâm" trước ca sản xuất.

Từ mạch nguồn vùng mỏ đến yêu cầu chuyển đổi

Năm 1963, khi Quảng Ninh được thành lập, vùng mỏ đã là một trung tâm công nghiệp than quan trọng của cả nước. Ngay trong năm này, toàn khu mỏ hoàn thành kế hoạch với sản lượng 3.897.947 tấn than, đạt 100,2% kế hoạch Nhà nước giao, mức cao nhất từ trước đến nay.

Trong những năm tháng đất nước chiến tranh, khẩu hiệu “Sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc” trở thành lời hiệu triệu đối với hàng vạn công nhân mỏ. Năm 1965, khi ngành Than đạt sản lượng 3,2 triệu tấn than sạch, gần 4 triệu tấn than nguyên khai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về vui Tết với công nhân, cán bộ và nhân dân Quảng Ninh, căn dặn thợ mỏ phát huy tinh thần thi đua, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ sản xuất được giao.

Từ những năm tháng gian khó ấy, ngành Than trưởng thành cùng quá trình phát triển của Quảng Ninh. Than không chỉ cung cấp nguồn năng lượng quan trọng cho sản xuất và đời sống mà còn tạo việc làm, góp phần hình thành các đô thị công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng và các thiết chế xã hội ở vùng mỏ.

Bước vào thời kỳ đổi mới, vai trò của ngành Than tiếp tục được khẳng định. Quảng Ninh có trữ lượng thăm dò xấp xỉ 4 tỷ tấn; bình quân mỗi năm các mỏ than trên địa bàn cung cấp cho nền kinh tế trên 40 triệu tấn than nguyên khai. Những năm gần đây, ngành Than, trọng tâm là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), vẫn đóng góp khoảng 1/4 GRDP và gần 40% ngân sách thu nội địa của tỉnh, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 80.000 lao động và tác động trực tiếp đến gần 1/3 dân số Quảng Ninh.

Công nhân Công ty CP Cơ khí Ô tô Uông Bí - TKV vận hành hệ thống máy tự động hóa gia công các thiết bị cơ khí.
Công nhân Công ty CP Cơ khí Ô tô Uông Bí - TKV vận hành hệ thống máy tự động hóa gia công các thiết bị cơ khí.

Những con số ấy cho thấy ngành Than vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế địa phương. Nhưng cũng chính quy mô và vai trò đó đặt ngành công nghiệp này trước yêu cầu phải thay đổi mạnh mẽ. Hoạt động khai thác, chế biến than tác động nhất định đến đất đai, nguồn nước, không khí và cảnh quan. Trong khi đó, Quảng Ninh sở hữu những lợi thế nổi bật về biển, đảo, cảnh quan, di sản và du lịch. Yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển dịch vụ, du lịch và nâng cao chất lượng sống đặt ra bài toán phải hài hòa giữa khai thác tài nguyên với phát triển bền vững.

Từ năm 2010, Quảng Ninh từng bước xác định rõ hơn định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, phát triển mạnh dịch vụ, du lịch và các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao. Với ngành Than, đây không phải là sự phủ nhận vai trò của một ngành công nghiệp truyền thống, mà là yêu cầu đổi mới phương thức phát triển theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên, nâng cao năng suất và giảm thiểu tác động đến môi trường. Trong tiến trình đó, quá trình ‘xanh hóa’ ngành Than trước hết được triển khai từ những khu vực chịu tác động trực tiếp của hoạt động khai thác.

Ông Nguyễn Huy Nam, Phó Tổng Giám đốc TKV, cho rằng trong tiến trình chuyển đổi từ ‘nâu’ sang ‘xanh’, ngành Than tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với kinh tế Quảng Ninh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Theo ông, yêu cầu đặt ra là ngành phải chuyển đổi mạnh mẽ phương thức sản xuất theo hướng hiện đại, an toàn, hiệu quả và bền vững hơn.

Một trong những hướng đi được TKV tập trung triển khai là đầu tư các công trình bảo vệ môi trường ngay trong quá trình sản xuất. Hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các đơn vị khai thác than từng bước được đầu tư, nâng cấp; nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường, một phần được tái sử dụng cho sản xuất, góp phần tiết kiệm tài nguyên và hướng tới sử dụng tuần hoàn nguồn nước. Cùng với nước thải, bụi và đất đá cũng là những vấn đề được ngành Than chú trọng xử lý. Các tuyến đường vận tải, khu vực cảng, kho than được tăng cường phun rửa; các công trình che chắn, xử lý bụi được đầu tư; hoạt động vận chuyển, sàng tuyển và tiêu thụ than từng bước được tổ chức theo hướng hạn chế phát tán bụi ra môi trường.

TKV dành trên 1.300 tỷ đồng mỗi năm cho công tác bảo vệ môi trường trong toàn Tập đoàn, trong đó riêng khu vực Quảng Ninh khoảng 1.100 tỷ đồng. Cùng với đó, những bãi thải, khai trường từng bước được phủ xanh. Giai đoạn 2021-2025, TKV đặt mục tiêu bình quân mỗi năm trồng khoảng 150-200ha cây xanh; đến năm 2025, toàn Tập đoàn đã trồng được hơn 1.800ha tại Quảng Ninh.

Tại một số đơn vị, quá trình chuyển đổi phương thức khai thác cũng gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường. Công ty CP Than Núi Béo là một ví dụ. Từ năm 2019, đơn vị chuyển sang khai thác hoàn toàn bằng phương pháp hầm lò sau thời gian dài khai thác lộ thiên. Cùng với đó, Công ty triển khai hoàn nguyên môi trường, trồng cây phủ xanh khai trường và bãi thải. Những thay đổi ấy cho thấy chuyển đổi xanh đang dần đi vào từng khâu của hoạt động sản xuất, từ khai thác, vận tải, chế biến đến phục hồi môi trường sau khai thác.

Hệ thống giám sát điều hành sản xuất tập trung tại Công ty CP Than Hà Lầm.
Hệ thống giám sát điều hành sản xuất tập trung tại Công ty CP Than Hà Lầm.

Xanh hóa đi cùng hiện đại hóa

Nếu chuyển đổi xanh đặt ra yêu cầu giảm tác động môi trường thì khoa học - công nghệ, cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số đang tạo thêm động lực để ngành Than nâng cao năng suất, an toàn và hiệu quả sản xuất. Điều kiện khai thác ngày càng xuống sâu, địa chất phức tạp và chi phí sản xuất tăng cao đòi hỏi phải giảm lao động thủ công, tăng mức độ cơ giới hóa, tự động hóa. Những dây chuyền cơ giới hóa đồng bộ tại các lò chợ vì thế trở thành một trong những dấu ấn rõ nét của quá trình hiện đại hóa vùng mỏ.

Năm 2022, TKV có 11 dây chuyền cơ giới hóa đồng bộ khai thác lò chợ với nhiều loại hình công nghệ, công suất từ hàng trăm nghìn đến hơn 1 triệu tấn than mỗi năm. Cơ giới hóa không chỉ góp phần nâng năng suất mà còn giảm lao động trực tiếp, cải thiện điều kiện làm việc, tạo nền tảng tiến tới mô hình mỏ hầm lò thông minh, ít người, năng suất cao.

Với những diện khai thác có điều kiện địa chất phức tạp, TKV tiếp tục nghiên cứu, nhân rộng công nghệ cơ giới hóa hạng nhẹ. Trong 5 năm qua, nhiều dây chuyền đã được áp dụng tại các đơn vị. Tại Công ty CP Than Mông Dương, lò chợ cơ giới hóa hạng nhẹ công suất 300.000 tấn/năm được đưa vào khai thác từ năm 2020, giúp khai thác hiệu quả những diện vỉa khó, đồng thời cải thiện điều kiện làm việc của người lao động. Ở dưới lòng đất, công nghệ cũng đang từng bước thay đổi cách người thợ mỏ làm việc. Các hệ thống thông gió công nghệ cao được kết hợp với hệ thống kiểm soát khí mỏ tập trung, tự động hóa, giúp kiểm soát vi khí hậu, pha loãng và giảm nồng độ các loại khí độc, bụi, qua đó nâng cao mức độ an toàn.

Công ty Tuyển than Cửa Ông đầu tư hệ thống phun sương dập bụi bảo vệ môi trường.
Công ty Tuyển than Cửa Ông đầu tư hệ thống phun sương dập bụi bảo vệ môi trường.

Cùng với cơ giới hóa và tự động hóa, chuyển đổi số đang trở thành một hướng đi chiến lược. TKV xác định mục tiêu trở thành doanh nghiệp số vào năm 2030 và hướng tới xây dựng các mỏ hầm lò thông minh, hiện đại sau năm 2030. Đề án chuyển đổi số được triển khai từ cơ quan điều hành đến các đơn vị thành viên, từng bước đưa dữ liệu số vào quản trị, điều hành và sản xuất.

Tại Công ty CP Than Hà Tu, các phần mềm số hóa được sử dụng để theo dõi vận hành, bảo trì thiết bị. Công ty Than Uông Bí ứng dụng phần mềm chỉ huy sản xuất, lập lệnh sản xuất, bàn giao ca và nhận diện khuôn mặt. Những công cụ này giúp thông tin được cập nhật nhanh hơn, giảm thao tác thủ công, hỗ trợ quản lý thiết bị, lao động và sản xuất hiệu quả hơn.

Không dừng ở số hóa quy trình quản trị, ngành Than đang từng bước đưa trí tuệ nhân tạo vào một số lĩnh vực chuyên môn. Công ty CP Giám định - Vinacomin (Quacontrol) đã ứng dụng chuyển đổi số và AI trong công tác giám định than, qua đó hỗ trợ nâng cao độ chính xác và tính minh bạch trong kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Chuyển đổi xanh và chuyển đổi số đang dần trở thành hai hướng đi song hành của ngành Than Quảng Ninh. Một hướng tập trung giảm tác động đến môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên; hướng còn lại nâng cao năng suất, an toàn và chất lượng quản trị bằng khoa học - công nghệ. Cả hai cùng hướng tới một mục tiêu chung là tạo ra một ngành công nghiệp hiệu quả hơn, an toàn hơn và bền vững hơn.

Trong chặng đường phát triển mới của Quảng Ninh, than vẫn là một phần quan trọng của nền kinh tế và là một phần không thể tách rời của lịch sử, văn hóa vùng mỏ. Từ “nâu” sang “xanh”, từ cơ giới hóa đến số hóa, ngành Than đang tiếp tục viết một chương mới của truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” - vừa bảo đảm vai trò sản xuất, đóng góp cho tăng trưởng, vừa từng bước kiến tạo một ngành công nghiệp xanh hơn, hiện đại hơn, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững của Quảng Ninh hôm nay.

Cùng chuyên mục