Trong hành trình phát triển toàn diện của Quảng Ninh, khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng xuyên suốt. Không chỉ tập trung xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, Quảng Ninh đang từng bước kiến tạo những thế hệ doanh nghiệp thông minh, doanh nghiệp số, lấy công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo làm nền tảng nâng cao năng suất, sức cạnh tranh, tạo dư địa phát triển nhanh và bền vững.
Doanh nghiệp chủ động số hóa
Những năm gần đây, chuyển đổi số không còn là xu hướng, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với cộng đồng doanh nghiệp. Từ quản trị, sản xuất, kinh doanh, đến chăm sóc khách hàng, các nền tảng số đang làm thay đổi toàn diện phương thức vận hành, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tối ưu nguồn lực, nâng cao năng suất lao động và mở rộng thị trường.
Tại Quảng Ninh, cùng với việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tỉnh đã ban hành Kế hoạch hành động số 42-KH/TU. Đồng thời, xây dựng Chiến lược phát triển dữ liệu, Chiến lược chuyển đổi số và Chương trình KHCN, đổi mới sáng tạo đến năm 2030. Đây được xem là nền tảng quan trọng để thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số, đổi mới mô hình quản trị và hình thành các doanh nghiệp thông minh.
Đến thời điểm hiện tại, Quảng Ninh có 35 doanh nghiệp KHCN, tăng 25% so với đầu năm 2025, nằm trong nhóm các tỉnh, thành phố có nhiều doanh nghiệp KHCN trên toàn quốc. Một trong số những doanh nghiệp tiêu biểu là Công ty CP Thiết bị điện Cẩm Phả. Những năm gần đây, doanh nghiệp đã đẩy mạnh đầu tư cho dây chuyền tự động hóa, số hóa toàn bộ quy trình thiết kế, sản xuất và kiểm soát chất lượng.
Điển hình như: Đầu tư hệ thống máy cắt tôn silic tự động công nghệ Đức, máy quấn dây công nghệ Thụy Sĩ, cùng các phần mềm quản lý sản xuất giúp giảm đáng kể nhân công, nâng cao độ chính xác và rút ngắn thời gian chế tạo sản phẩm. Đặc biệt, máy biến áp kỹ thuật số 220kV do doanh nghiệp nghiên cứu đã thử nghiệm thành công theo tiêu chuẩn quốc tế và ký hợp đồng cung cấp 5 sản phẩm trị giá khoảng 200 tỷ đồng, khẳng định năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp Quảng Ninh.
Ông Phạm Văn Phượng, Phó Giám đốc điều hành sản xuất Công ty CP Thiết bị điện Cẩm Phả, cho biết: Năm 2025, công ty đạt doanh thu hơn 486 tỷ đồng, trong đó doanh thu từ sản phẩm KHCN chiếm khoảng 71%. Điều này cho thấy, chuyển đổi số giúp doanh nghiệp thay đổi từ phương thức quản lý đến tổ chức sản xuất. Chúng tôi xác định đầu tư công nghệ phải đi cùng với đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng quy trình quản trị hiện đại và làm chủ công nghệ cốt lõi. Đây là nền tảng để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước cũng như quốc tế.
Hiệu quả của việc đầu tư cho KHCN và đổi mới sáng tạo được phản ánh rõ qua kết quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp qua từng năm, như: Công ty CP Gốm Đất Việt, 89% doanh thu đến từ các sản phẩm KHCN; Công ty CP Gạch ngói Đất Việt, 100% doanh thu đến từ sản phẩm ứng dụng KHCN… Đáng chú ý, tại phần lớn doanh nghiệp KHCN trên địa bàn Quảng Ninh, doanh thu từ các sản phẩm ứng dụng KHCN và đổi mới sáng tạo đều chiếm trên 70% tổng doanh thu. Điều này cho thấy hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và làm chủ công nghệ đã thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Quảng Ninh.
Chủ động hơn nữa, hiện các doanh nghiệp cũng đang đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), tự động hóa và các nền tảng quản trị số… trong chính hoạt động sản xuất. Từ đó, đã giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí và gia tăng giá trị sản phẩm. Những “tư duy số” này đang từng bước tạo nên diện mạo mới của cộng đồng doanh nghiệp Quảng Ninh trong thời kỳ chuyển đổi số.
Những kết quả trên đã khẳng định vai trò quan trọng của KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ninh, phản ánh chất lượng tăng trưởng và từng bước chuyển dịch mô hình phát triển dựa vào năng suất và công nghệ, nâng cao các chỉ số. Năm 2025, Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII) Quảng Ninh xếp thứ 3; tỷ lệ đóng góp Chỉ số năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào GRDP duy trì xu hướng tăng liên tiếp; tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt gần 50%; tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt trên 19%; tỷ trọng tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 7,73% năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 8,3%...
Tạo động lực phát triển doanh nghiệp thông minh
Xác định doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới sáng tạo, Quảng Ninh đang chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ sang tư duy kiến tạo, xây dựng môi trường thuận lợi để doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất thông minh và từng bước hình thành nền kinh tế số.
Trong giai đoạn 2020-2025, Quảng Ninh đã dành hơn 2.300 tỷ đồng để đầu tư, hỗ trợ phát triển KHCN. Năm 2026, địa phương bố trí hơn 3% tổng chi ngân sách để triển khai các nhiệm vụ KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cùng với đó, nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi về tài chính, thuế, đất đai, hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm tiếp tục được hoàn thiện, nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới sáng tạo.
Định hướng trong giai đoạn tới, Quảng Ninh xác định KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là trụ cột của mô hình tăng trưởng mới, trong đó doanh nghiệp là lực lượng dẫn dắt. Tỉnh tập trung xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp số gắn với phát triển hạ tầng số, dữ liệu số và thị trường KHCN; thực hiện đẩy nhanh tiến độ hình thành khu công nghệ số tập trung, khu kinh tế số và tri thức tự do, trung tâm đổi mới sáng tạo và các nền tảng dữ liệu dùng chung, để tạo không gian phát triển mới cho doanh nghiệp. Đồng thời, Quảng Ninh ưu tiên thu hút các tập đoàn công nghệ lớn, doanh nghiệp FDI thế hệ mới, doanh nghiệp công nghệ số có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị, tạo hiệu ứng lan tỏa tới doanh nghiệp địa phương.
Song song với đó, Quảng Ninh tiếp tục triển khai hiệu quả Chiến lược chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030 và Chiến lược dữ liệu; đẩy mạnh ứng dụng AI, IoT, Big Data trong phát triển đô thị thông minh, du lịch thông minh, logistics, kinh tế biển, cửa khẩu thông minh và các lĩnh vực có lợi thế. Quảng Ninh cũng tăng cường hợp tác với các tập đoàn công nghệ, như: Viettel, VNPT, FPT, MobiFone… nhằm huy động nguồn lực phát triển hạ tầng số, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ mới.
Bên cạnh những kết quả tích cực, Quảng Ninh cũng nhận định rõ việc phát triển doanh nghiệp số vẫn còn những hạn chế, như: Số lượng doanh nghiệp công nghệ số chưa nhiều, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khó khăn về nguồn lực đầu tư, nhân lực chất lượng cao còn thiếu, liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo chưa thật sự chặt chẽ.
Để tháo gỡ những "điểm nghẽn" này, Quảng Ninh đang tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực số; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D); hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ số, bảo hộ tài sản trí tuệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn. Xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch và hấp dẫn để thu hút đầu tư, khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp và cá nhân tham gia; tăng cường kết nối doanh nghiệp với Khu công nghệ số tập trung, Khu kinh tế số và tri thức tự do, sàn giao dịch công nghệ, các viện nghiên cứu, trường đại học và nhà đầu tư để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, mở rộng thị trường…
Quảng Ninh cũng đặt mục tiêu, lộ trình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xây dựng cộng đồng doanh nghiệp số đủ năng lực cạnh tranh khu vực, coi đây là lực lượng tiên phong thúc đẩy kinh tế số trở thành "trục ngang" kết nối và nâng tầm phát triển các hoạt động thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương trong thời kỳ mới.